QuốcTổ Hùng Vương “Truyền Thuyết Khởi Nguyên Dân Tộc”

2 năm ago
1105 Views

CHƯƠNG MỘT

TRUYỀN THUYẾT
KHỞI NGUYÊN DÂN TỘC

Mỗi dân tộc đều có những truyền kỳ lịch sử được thần thoại hoá thể hiện lòng tự hào dân tộc mang tính sử thi của dân tộc đó. Nữ sĩ Blaga Dimitrova cũng như nhiều học giả ngoại quốc khác đã hết sức ngạc nhiên xen lẫn thán phục khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam:“Việt Nam là một dân tộc mà huyền thoại và hiện thực đan quyện hòa lẫn với nhau đến độ khó có thể phân biệt đâu là huyền thoại đâu là hiện thực nữa”.

Thật vậy, huyền thoại Rồng Tiên về cội nguồn huyết thống Việt tuy đượm vẻ huyền hoặc nhưng lại tràn đầy tính hiện thực, thấm đậm nét nhân văn của truyền thống nhân đạo Việt Nam. Người Việt Nam, từ em bé thơ ngây đến cụ già trăm tuổi, từ bậc thức giả đến bác nông dân chân lấm tay bùn, không ai mà không một lần nghe truyện cổ tích họ Hồng Bàng về “Con Rồng cháu Tiên”. Là người Việt Nam, chúng ta hãnh diện về nguồn cội Rồng Tiên với thiên tình sử của “Bố Lạc-Mẹ Âu” đẹp như một áng sử thi mở đầu thời kỳ dựng nước của dòng giống Việt.

Truyện họ Hồng Bàng về khởi nguyên dân tộc, lần đầu tiên được Hồ Tông Thốc chép trong tác phẩm “Việt Nam Thế Chí” vào thế kỷ XIV đời Trần nhưng sách đã bị giặc Minh tịch thu tiêu hủy nên không còn nữa. Những bộ sử đầu tiên được biết là bộ Sử Ký 史 記 của Đỗ Thiện đời nhà Lý, “Việt Chí” 越 志 của Trần Phổ đời Trần và bộ “Đại Việt Sử Ký” 大 越 史 記 do Lê văn Hưu biên soạn năm 1272 đời Trần Nhân Tông viết gồm 30 quyển chép lịch sử Việt Nam từ thời Triệu Vũ Đế đến thời Lý Chiêu Hoàng. Cả 3 bộ sách này đã bị quân Minh tịch thu rồi tiêu hủy nên cũng không còn nữa. Cuối đời Trần, sách Đại Việt Sử Lược do một tác giả vô danh biên soạn bị giặc Minh tịch thu tiêu hủy còn bản duy nhất lưu trữ trong “Thủ Sơn Các Tùng Thư và Khâm Định Tứ Khố Toàn Thư” đời Thanh. Tiền Hi Tộ, sử quan triều Thanh khi hiệu đính đã sửa chữa nội dung kể cả tên sách Đại Việt Sử Lược cũng bị sửa lại là Việt Sử Lược. Sử quan triều Thanh Tiền Hi Tộ đã sửa đổi niên đại thành lập nước Văn Lang, kéo lùi lại hàng ngàn năm hòng xóa bỏ vết tích quê hương xa xưa của Việt tộc ở Trung Quốc. Với thủ đoạn thâm độc quỷ quyệt, Tiền Hi Tộ đã xuyên tạc ý nghĩa cao đẹp của sự thành lập quốc gia Văn Lang là “… Có người lạ dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng Hùng Vương”, Hai Bà Trưng khởi nghĩa giành độc lập dân tộc thì Tiền Hi Tộ viết là bất mãn Tô Định bạo tàn nổi lên làm loạn! Đây bản chất thâm độc quỷ quyệt của Hán tộc xâm lược bành trướng từ xa xưa cho đến ngày nay.

Sử quan triều Thanh là Tiền Hi Tộ đã sửa đổi xuyên tạc, bóp méo lịch sử để làm giảm ý nghĩa cao đẹp của sự thành lập quốc gia Văn Lang như sau: “Đến đời Chu Trang Vương (696-682TDL) ở bộ Gia Ninh có người lạ dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang. Phong tục thuần hậu, chất phác. Chính sự dùng lối thắt nút. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương. Việt Câu Tiễn (505-465 tr. CN.) đã sai sứ tới dụ, Hùng vương chống cự lại. Cuối đời Chu, Hùng vương bị con vua Thục là Phán đánh đưổi mà lên thay. Phán đắp thành ở Việt Thường, xưng hiệu là An Dương Vương, không thông hiếu với nhà Chu… Cuối đời Tần, Triệu Đà chiếm cứ Uất Lâm, Nam Hải, Tượng quận, xưng vương đóng đô ở Phiên ngung, quốc hiệu là Việt, tự xưng là Vũ Vương”.

Đầu thế kỷ XIV, Trần Thế Pháp và Lý Tế Xuyên đời Trần đã chép lại những truyền thuyết dân gian vào bộ sách “Lĩnh Nam Trích Quái” và “Việt Điện U Linh” để truyền lưu nguồn gốc dòng giống Việt cho đời sau. Trần Thế Pháp tác giả Lĩnh Nam Trích Quái viết: “Từ thời Xuân Thu Chiến Quốc chưa có quốc sử để ghi chép cho nên nhiều truyện bị mất đi, may còn truyện nào không bị thất lạc được dân gian truyền miệng thì đó là Sử ở trong truyện chăng? Than ôi, Lĩnh Nam Liệt truyện sao không khắc vào đá, viết vào tre mà chỉ truyền tụng ở ngoài bia miệng?! Từ đứa trẻ đầu xanh đến cụ già tóc bạc đều truyền tụng và yêu dấu, lấy đó làm răn, rất quan hệ đến cương thường, phong hoá. Ôi! Há đâu phải là điều lợi nhỏ?”.

Năm 1329, Lý Tế Xuyên viết Việt Điện U Linh cũng ấp ủ hoài bão bảo vệ truyền lưu truyền thuyết về nguồn cội dân tộc. Lý Tế Xuyên viết: “Xem truyện họ Hồng Bàng thì hiểu lai do việc khai sáng nước Hoàng Việt. Trời đã sai chim huyền điểu giáng thế sinh ra vua Thương thì hẳn có việc trăm trứng nở thành trăm con trai chia trị Nam quốc. Truyện họ Hồng Bàng không thể mất được”. Học giả Lê Quý Đôn trong “Kiến Văn Tiểu Lục” viết năm 1777 đã nhận định: “Hồi đầu niên hiệu Khai Hựu (1329-1341) nhà Trần, Lý Tế Xuyên phụng mệnh chép Việt Điện U Linh tập, ghi đền miếu thờ các vị thần, có trình bày hạo khí linh tích 8 vị Đế vương Lịch Đại và 12 vị Nhân Thần. Sách này lời văn trang nghiêm, sự việc xác thực, cũng tỏ ra tài nhà sử học lành nghề. Trong sách có dẫn Giao Châu Ký của Tăng Cổn, Sử Ký của Đỗ Thiện và truyện Báo Cực. Những sách này đều không còn thấy lưu truyền!”. Mãi đến đời Lê, sử gia Ngô Sĩ Liên mới chính thức đưa thời đại Hùng Vương vào bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 大 越史 記 全 書. Quan niệm của ông khi viết sử là để “Xét rõ nguồn gốc xưa nay của trị loạn để bạo biếm khen chê răn đời”. Ngô Sĩ Liên tuy mới chép thời đại Hùng Vương trong phần ngoại kỷ chứ chưa chính thức ghi vào chính sử cốt ý để cho thế hệ đời sau soi sáng cội nguồn qua các công trình nghiên cứu để minh nhiên lý giải nguồn gốc dân tộc.

Sử gia Ngô Sĩ Liên viết “Nước Đại Việt ta ở về phía Nam Ngũ Lĩnh, thế là Trời đã chia bờ cõi Nam Bắc hẳn hòi. Thủy Tổ của ta là con cháu Thần Nông. Trời đã sinh ra vị chân chúa vì thế mới cùng Bắc triều đều làm chúa Tể một phương”. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết tiếp về họ Hồng Bàng như sau: “Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi. Đế Minh đi tuần du phương Nam, đến dãy Ngũ Lĩnh gặp Vụ Tiên nữ sinh ra Vương (Lộc Tục). Vương là bậc Thánh trí thông minh. Đế Minh yêu quý lạ, muốn cho nối ngôi. Vương cố nhường cho anh mình, không dám vâng mệnh nên Đế Minh lập Đế Nghi là con trưởng nối dòng trị phương Bắc và phong cho vua là Kinh Dương Vương, trị phương Nam, đặt tên nước là Xích Quỷ. Vương lấy con gái Chúa Động Đình tên là Thần Long, sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân húy là Sùng Lãm, nhà vua lấy con gái của Đế Lai là nàng Âu Cơ, sinh ra trăm trai. Tục truyền là sinh ra trăm trứng, ấy là Tổ của Bách Việt. Một hôm vua bảo Âu Cơ rằng: “Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thuỷ hoả khắc nhau, sum hợp thật khó” nên phải chia tay, năm chục con theo mẹ về núi, năm chục con theo cha về miền Nam. Có sách chép là về biển Nam. phong con cả là Hùng Vương nối ngôi”.

Truyền thuyết thoạt nghe có vẻ hoang đường huyền hoặc thế nhưng, vấn đề là chúng ta phải đặt mình vào thuở ban sơ cách đây mấy ngàn năm mới thấy rõ Tổ tiên ta đã sống ra sao và suy nghĩ thế nào ở thời cổ đại? Từ đó, mới có thể hiểu được những gì mà Tổ tiên ta đã gửi gấm cho chúng ta qua bức thông điệp lịch sử hàng ngàn năm đó. Làm sao có chuyện trứng nở ra người? Chi Âu Việt của người Việt cổ chọn vật linh biểu trưng là chim nên mẹ Âu phải đẻ ra trăm trứng. Chim Phượng Hoàng của người Việt tung cánh bay theo hướng mặt trời, diễn tả ý niệm người Việt thiên cư dần về hướng Đông xuống miền duyên hải, mặt khác chim bay lên trời nên được thăng hoa với hình tượng Tiên của mẹ Âu.

Mỗi dân tộc đều có những truyền thuyết độc đáo mang sắc thái đặc thù biểu trưng riêng của dân tộc đó. Ngay cả những dân tộc mà ngày nay được xem là văn minh cũng đều có một con vật biểu trưng cho dòng giống. Ấn Độ chọn con voi, Tàu chọn con cọp, Pháp chọn con gà trống Gaulois, Anh chọn con sư tử, Mỹ chọn con chim ưng (đại bàng) nên Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ lấy chim đại bàng làm quốc huy cho cả nước.

Theo cơ cấu luận thì Sử ký là sử hàng ngang ghi chép các biến cố, các sự kiện cụ thể với những con người cụ thể theo năm tháng, còn Huyền sử được gọi là sử hàng dọc mang tính tâm linh, xoay quanh những tác động lý tưởng biểu thị bằng những hình tượng nguyên sơ giàu phổ biến tính. Những hình tượng này tiềm ẩn trong đời sống tâm linh của một dân tộc như trong huyền sử Rồng Tiên thì Âu Cơ chỉ là hình tượng nguyên sơ. Mẹ Âu Cơ là chi tộc thờ chim của Việt tộc nên việc mẹ đẻ ra một cái bọc trăm trứng là chuyện bình thường cũng như cái bọc không chỉ nói về cái bọc mà nó biểu trưng cho ý nghĩa của 2 chữ đồng bào cùng chung một bào thai của mẹ Âu Cơ.

Huyền sử nói trăm con không nhất thiết phải là một trăm mà hàm ý số nhiều và quan trọng nhất là thư tịch cổ Trung Hoa chép về cộng đồng Bách Việt, đã chứng minh sự thật lịch sử của huyền thoại mà ta cứ tưởng là huyền hoặc hoang đường. Ngày nay không ai phủ nhận được giá trị của huyền thoại và truyền thuyết được coi như lịch sử dân gian mà đôi khi nó có giá trị trung thực hơn cái gọi là chính sử của các chế độ độc tài xưa và nay. Beaudelaire một thi sĩ nổi tiếng đã nhìn nhận sức mạnh của truyền thuyết huyền thoại vì đó là “Sử cô đọng của các dân tộc”.

Đại văn hào Pháp Victor Hugo Hugo (1802-1885), một trí thức dấn thân tiêu biểu của thế kỷ 19, đã nhận định: “Lịch sử là tiếng vọng của quá khứ phản ánh tương lai và lịch sử cũng là sự phản ánh của tương lai ném vào quá khứ”. Trong tác phẩm “Truyền Kỳ các thời đại”, Victor Hugo đã tìm về nguồn cội, khai thác các truyền thuyết thần thoại xa xưa vì đó là “Lịch sử được lắng nghe ở ngưỡng cửa của truyền thuyết. Truyền kỳ có phần nào hư cấu nhưng tuyệt đối không có ngụy tạo”.

Thật vậy, truyền thuyết tự thân nó không phải là lịch sử biên niên nhưng truyền thuyết là có thật, nó phản ảnh những ý nghĩa có thật của một thời lịch sử ban sơ mà người xưa ký thác vào đó với những hư cấu huyền hoặc để truyền lưu gửi gấm cho những thế hệ sau. Laurens va de Post đã xem huyền thoại là di sản thiêng liêng nhất vì nó diễn tả tinh thần dân tộc ở mức độ cao nhất. Micia Eliado cũng cho rằng “Huyền thoại là gia sản quý báu nhất vì tính chất thiêng liêng điển hình và mang lại ý nghĩa sống cho cả một dân tộc”.

Vấn đề là phải làm sao hiểu được những ý tưởng uyên nguyên, những tâm linh sâu thẳm hàm tàng ẩn chứa qua những hình tượng nguyên sơ như P. Ricoeur đã viết:“Tất cả đã được nói rồi trong các thần thoại, vấn đề chúng ta là chỉ còn phải tìm hiểu”.

Triết gia thời đại Jung đã viết:“Truyền thuyết huyền thoại hàm chứa những ý nghĩa lịch sử trung thực nhất, vì nhân vật thần thoại là sản phẩm đúc kết biết bao suy tư của một thời đại tạo dựng tỏa sáng nhưng nó phải chờ thế hệ sau diễn đạt bằng ngôn từ minh nhiên lý giải. Huyền thoại là đạo sống của một dân tộc”. Chính vì vậy, Wallace Cliff khẩn thiết kêu gọi: “Nếu dân tộc nào để mất đi huyền thoại là đánh mất mạch nối vào nguồn cội quá khứ của tổ tiên và cũng sẽ mất luôn căn bản cho việc xây dựng tiền đồ của dân tộc đó”. Lịch sử đã chứng minh nhận định của Karl Jung là “Huyền thoại là đạo sống của một dân tộc. Nếu Dân tộc nào quên đi huyền thoại thì dân tộc đó dù là những dân tộc văn minh nhất, sớm muộn cũng sẽ tiêu vong”.

Trong lịch sử loài người, nhiều cộng đồng người đã không tồn tại được với thời gian vì không có truyền thuyết khởi nguyên của dân tộc. Truyền thuyết khởi nguyên dân tộc với huyền thoại “Rồng Tiên” là di sản thiêng liêng nhất, quý báu nhất mà tiền nhân đã để lại cho hậu thế. Huyền thoại là dòng tâm linh sâu thẳm xuyên suốt lịch sử, là mạch sống nối cội nguồn quá khứ với thế hệ hiện tại và mai sau, là gia sản cao quý vô giá ghi nhận những cảm nghiệm nội tâm của người xưa đã thực chứng suốt dòng vận động của lịch sử.

Huyền thoại Rồng Tiên đã thấm sâu trong lòng mỗi người chúng ta để rồi trở thành đạo sống của dân tộc Việt. Chúng ta nghiên cứu huyền sử, tìm về nguồn cội dòng giống qua những gửi gấm của người xưa là một việc làm hết sức đúng đắn và cần thiết. Vấn đề đặt ra là với một thái độ trân trọng, một phương pháp khoa học, nhưng không có quyền áp đặt những suy nghĩ của chúng ta hôm nay lên những ý tưởng của người xưa mà chúng ta phải đặt mình hoàn cảnh lịch sử thời đó để có thể hiểu được cái gọi là “lịch sử sống động của dân gian”.

Chúng ta phải bỏ qua những yếu tố thần thoại, loại ra những chi tiết hư cấu để chú tâm vào những hàm tàng ẩn chứa trong nội dung. Chúng ta phải đặt mình vào hoàn cảnh xã hội đời sống tâm linh của người xưa, mới thấy được cái tinh túy cốt lõi tiềm tàng trong truyền thuyết. Khi chúng ta cảm nhận ít nhiều nội dung của bức thông điệp ngàn năm, chúng ta tìm hiểu, phân tích, đối chiếu với nguồn sách sử cổ. Sự thật lịch sử sẽ được phục hồi với những chứng cứ khoa học thuyết phục như Khảo cổ, Ngôn ngữ, Dân tộc, Chủng tộc học, Khảo Tiền Sử, Huyết học, Cấu trúc mã di truyền DNA và Đại Dương Học.


rong-tien-1

Comments
  • TÓM TẮT SƠ LƯỢC QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG

    Theo Kinh Long Hoa Mật Tạng, Anh Linh Quốc Tổ truyền lại.
    Trong trăm họ đầu tiên nhân loại. Có Họ Trời, Họ Trời chính là Họ Cao. (Trời Cao) Họ Cao ra đời mang Họ Trời, tồn tại qua các thời kỳ của mỗi tiểu kiếp. Thời Hồng Hoang, Hồng Nguyên, Hồng Bàng, Hồng Đế, Viêm Đế. Đến thời niên đại Kinh Dương Vương. Cứ mỗi tiểu kiếp là 16 triệu 800 nghìn năm. Như vậy Họ Cao đã Khởi nguồn từ giữa tiểu kiếp thứ 5 đến nay cuối tiểu kiếp thứ 9, đã trải qua 75 triệu 600 nghìn năm.
    – Quốc Tổ Hùng Vương là con một của Kinh Dương Vương đời thứ 9 Mẹ là Thần Long Nữ Bộ Tộc Long Giao.
    – Quốc Tổ sinh ngày 20 tháng 2 năm giáp thìn.
    – Quốc Tổ Họ Cao, Hùng Lan.
    – 16 tuổi Quốc Tổ đi tìm chân lý.
    – 22 tuổi Quốc Tổ chuyển đại pháp luân khai Hội Long Vân tại vườn cấm nằm ở phía tây nước Xích Quỷ.
    Theo niên lịch Đại Nam, có từ thời Viêm Đế. ngày 2 tháng 3 năm Ất Sửu, Quốc Tổ thuyết giáo nói ra Văn Hóa Cội Nguồn Đại Đạo Vũ Trụ. Hàng phục Bách Tộc, sau nầy trở thành Bách Việt Văn Lang. Văn Hóa Cội Nguồn trở thành Nền Quốc Đạo Văn Lang.
    – 25 tuồi Quốc Tổ dẫn quân Âu, Lạc Bách Việt. Tiền về đất Địa Long Lãnh Nam, nằm ở phía nam nước Xích Quỷ ( Nay là Địa Long chữ S Việt Nam) Quốc Tổ cùng quân Bách Việt, tiêu diệt ba con Yêu Tinh Chúa Quỷ, Mộc Tinh, Ngư Tinh, Hồ Tinh. Khai lập lên nước Văn Lang vào năm Mậu Thìn.
    – 30 tuổi Quốc Tổ lên ngôi Quốc Vương vào ngày 2 tháng 9 năm Quý Dậu. Lấy Niên Hiệu Hùng Vương, Công Bố Niên Đại Hùng Vương ra đời, kế theo Niên Đại Kinh Dương Vương. Nước Xích Quỷ trở thành nước Văn Lang rộng lớn. Công Bố Nền Quốc Đạo cũng như Nhà Nước Văn Lang ra đời. 2959 trước công nguyên.
    – Quốc Tổ Hùng Vương năm 41 tuổi lúc này Quốc Mẫu Phụng Cơ (Phụng Cơ là con gái của Đế Lai) sanh Hùng Quý Lân.
    – 109 tuổi Quốc Tổ truyền ngôi cho Hùng Quý Lân 2880 trước công nguyên.
    – 79 năm Quốc Tổ ở ngôi Quốc Vương.
    – 3 năm Quốc Tổ ở ngôi Thái Thượng Hoàng Quốc Đạo.
    Quốc Tổ thọ 112 tuổi. Về trời vào ngày mùng 10 tháng 3 theo niên lịch Đại Nam Văn Hiến.
    Tóm lại: Quốc Tổ ra đời đến nay 2016 là năm nghìn không trăm lẽ năm năm ( 5005 Năm) Niên Đại Hùng Vương đến nay 2016 là bốn nghìn chín trăm bảy lăm năm( 4975 năm).
    (Niên Lịch Đại Nam Văn Hiến thất truyền vào thời An Dương Vương kết thúc Niên Đại Hùng Vương 258 trước công nguyên)
    Muốn hiều rõ về Quốc Tổ Hùng Vương thời phải xem qua Long Hoa Mật.
    **************
    http://caoducthangqn.blogspot.com/2016/10/long-hoa-mat-tang-quyen-1.html

    Cao Đức Thắng Tháng Mười Hai 24, 2016 1:23 sáng
  • Văn Lang Độc Lập mấy nghìn đời
    Nào phải không người chớ dễ ngươi
    Con cháu Tiên Rồng luôn yêu nước
    Hiếu trung truyền thống dễ mà xơi.
    Nước Văn Lang: Bắt giáp Hồ Động Đình. Tây Bắc giáp Ba Thục. Tây giáp sông Hồng Lạc tức là sông Mê Công ngày nay. Ở thời Thượng Hùng Vương, Nam giáp Đèo Ngan. Ở thời Hạ Hùng Vương Nam giáp Hồ Tôn giáp giới Quảng Nam. Đông giáp biển Nam Hải, Đông Hải.
    Nước Xích Qũy đươc mở rộng vào Nam lên tới 23 Bộ thành nước Văn Lang. Có hai Kinh Đô chính. Kinh Đô Nam Kinh Xích Quỷ là Kinh Đô cổ có từ thời Viêm Đế Thần Nông trên đất Giao Chỉ.
    Còn Kinh Đô Văn Lang trên vùng đất Phong Châu Nghĩa Lỉnh Phú Thọ, là Kinh Đô có từ thời Hùng Vương. Cũng từ đây nền Quốc Đạo Tiên Rồng mở màng Hiến Pháp nước Văn Lang. Thượng trị Quốc Đạo, hạ trị Quốc Hội. Trên thi hành Đạo, dưới thi hành Luật, đồng nghĩa thời nay. Thượng viện Quốc Đạo. Hạ viện Quốc Hội, trên ban hành Công Đạo, dưới ban hành Công Luật. Nền Quốc Đạo không truyền xuống dân, mà chỉ truyền xuống Vua. Rồi Vua truyền xuống Quan ở hàng Vương tộc, Châu – Bộ .
    23 Bộ thời Văn Lang dựng nước, được duy trì hết thời thượng Hùng Vương. Đến thời hạ Hùng Vương 23 bộ xác nhập lại còn 15 bộ đó là:
    1: Bộ Giao Chỉ
    2: Bộ Chu Diêm
    3: Bộ Vũ Ninh
    4: Bộ Phú Lộc
    5: Bộ Việt Thường
    6: Bộ Ninh Hải
    7: Bộ Dương Truyền
    8: Bộ Lục Hải
    9: Bộ Gia Ninh
    10: Bộ Nhật Nam
    11: Bộ Cữu Chân
    12: Bộ Bình Văn
    13: Bộ Tân Hưng
    14: Bộ Cữu Đức
    15: Bộ Văn Lang
    Nước Văn Lang tuy xác nhập còn 15 Bộ. Nhưng có tới hàng nghìn Châu, Huyện. Đất đai rộng lớn vô cùng, rộng lớn hơn thời thượng Hùng Vương, giàu có trù phú vô cùng.
    Văn Lang Độc Lập thái bình ca
    Xuân nở đầy xuân gấm đầy nhà
    Bổng đâu sấm nổ từ phương Bắc
    Giặc Ân tham vọng dấy binh qua.
    Thời hạ Hùng Vương đời thứ 3 Hùng Tiên Lang lên ngôi Quốc Vương trị vì thiên hạ thay Cha Ông Nội Hùng Yên Lang 1141 trước Công Nguyên. Non sông đất nước thái bình an lạc, đời sống lên cao, dân giàu có, của Báu đầy nhà. Hoa khôi xuất hiện khắp nơi, tin đồn vạn cõi. Bay đến tai Ân Thọ Vương Vua Trụ. Đời Ân Vua Trụ là tay háo sắc, háo chiến, hung bạo, tham lam, độc ác. Lúc nào cũng muốn độc bá thiên hạ, luôn luôn đi ngược lại lời dạy của các bật nhơn hiền, nghịch Thiên, ác Đạo. Nghe tin đồn phương Nam giàu có, gái đẹp như Tiên nữ giáng trần. Sơn hào, hải vị, món ngon vật lạ, ngọc ngà châu báu khắp nơi. Thời lòng thèm muốn nỗi lên, đến nỗi ăn không ngon, ngũ không yên. Lúc nào cũng nghỉ đến xâm lược thôn tính nước Văn Lang. Cho đến một hôm Vua Trụ không kèm lòng nỗi nữa, liền thực hiện làm theo ý muốn của mình. Thường thường Vua Trụ lâm triều hơi muộn. Nhưng hôm nay lại khác hơn mội khi, Trụ Vương nét mặt rạng rỡ, nhưng không dấu nỗi đầy vẻ tham vọng, khi thấy các Quan, Tướng đến chầu đông đủ. Chiểm chệ trên bệ rồng, Trụ Vương tiếng nói oan oan như sấm, hai con mắt tóe lửa, nhìn chòng chọc đầy hung khí, ai nhìn thấy cũng phải khiếp sợ, với hàm râu quay nón dài thòm vểnh ngược như muốn ăn tươi nuốt sống ai đó.
    Trẩm nghe nói ở phương Nam Độc Lập gần hai nghìn năm, uy danh các Vua Hùng lừng lẫy, xem thường phương Bắt chúng ta. Từ thời Nghiêu, Thuấn nhà Hạ, đến đời nhà Thương ông cha ta. Có trên dưới nghìn năm. Đều kiên dè Nam Ban Văn Lang. Có lẽ vì thế Nam Ban Văn Lang coi thường phương Bắc chúng ta. Đời tiền nhân kiên dè, nhưng đời ÂN THỌ VƯƠNG ta thì không. Ta phải làm cho chúng biết thế nào là sức mạnh phương Bắc ta. Không những đất phương Nam, mà ngay cả đất Băc chúng ta. Những nước không tùng phục, thời ta cũng phải xóa sổ chúng làm bá chủ thiên hạ. Càng nói Trụ Vương càng đắc ý.
    Trẩm nghe đâu thời hậu Hùng Vương, chỉ là những vị Vua tầm thường, chẳng tài cán chi. Trẩm còn nghe nói nước Văn Lang giàu có, không những sơn hào hải vị, món ngon vật lạ, ngọc ngà châu báu như núi như non. Lại thêm văn minh nông nghiệp lúa nước, hạt ngọc ấm no, khai thát đồng thau, sắt thép vượt bật. Nhất là thép quí hiếm vô cùng. Vua Trụ càng kể càng nổi lên thèm khác tột độ. Không những Vua mà ngay cả Quan cũng nỗi lên sự thèm khác như vậy. Nếu thu phục được nước Văn Lang, gồm thâu Thiên Hạ Nam Bắc về một mối. Lập lên kỳ tích mà từ xưa tới nay chưa ai làm nỗi. Nhà Ân sáng chói có một không hai, trong lịch sử nhân loại. Có lẽ lòng háo chiến, háo thắng, dã tâm, tham vọng quá lớn. Nên đã làm lu mờ lý trí Vua Trụ. Lượm lặt thông tin không chính xác. Dẩn đến đánh giá thấp nhân tài, thực lực của nước Văn Lang. Thừa Tướng Thương Dung thấy Trụ Vương xem thường nước Văn Lang thời than thầm rằng. Có lẽ cơ nghiệp nhà Thương sắp hũy diệt, nên bệ hạ mới nỗi lên lòng háo chiến, ngạo mạng xem thường Nam phương Văn Lang, liền khuyên can Vua Trụ rằng.
    Muôn tâu bệ hạ: Nam Ban Văn Lang không phải tự nhiên mà giàu có, Độc Lập kéo dài như thế, điều có cái gốc rễ nguyên nhân của nó. Đó chính là nền Quốc Đạo dân tộc. Hiến Pháp của nước Văn Lang, Hiến Pháp nền Quốc Đạo. Mới thật là Vua của nước Văn Lang. Các Vua Hùng nối nhau phò trì nền Quốc Đạo nầy. Đánh bại Vua Hùng thời có thể làm được. Nhưng đánh bại nền Quốc Đạo Tiên Rồng thì. Thừa Tướng Thương Dung không giám nói nữa. Vua Trụ nỗi nóng quát! Thì sao Thừa Tướng không nói tiếp. Thương Dung ấp a..ấp úm. Thừa Tướng cứ nói ta không bắt tội.
    Muôn tâu bệ hạ: Thắng người thời dễ, nhưng thắng Đạo, thời từ xưa tới nay chưa có ai làm nỗi. Huống chi là nền Quốc Đạo Tiên Rồng Hiến Pháp khai dựng lập lên nước Văn Lang.
    Muôn tâu bệ hạ: Nam Ban Văn Lang là một cường quốc vô cùng lợi hại. Lợi hại cả hai mặt, về tinh thần lẩn vật chất. Đất đai rộng lớn, rừng núi hiểm trở, sông ngòi, kinh rạch chằng chịt. Đúng là nơi Hổ ẩn Rồng nằm vô cùng bí hiểm. Nên gần 2000 năm Độc Lập giữ vững chủ quyền. Không phải là không có lý do. Vua Trụ nghe cũng có lý thời thừ người. Nét mặt buồn thảm vô hạn.
    Vưu Hồn – Bí Trọng thấy Vua Trụ mất vui, liền tâu rằng. Muôn tâu bệ hạ: Nước Văn Lang thế nầy thế nọ. Chẳng qua là lời đồn, còn thực tế ra sao thời chưa tỏ rõ. Hùng Tiên Lang chỉ là vị Vua tầm thường. Chỉ lo an hưởng thái bình vui thú núi non. Các thân Vương, hầu Vương cũng vậy, bất tài vô dụng, béo mập chẳng nên tích sự gì. Có lẽ đây là cơ hội lập lên nhà Ân rộng lớn uy danh chúng ta, thống nhất thiên hạ Nam Bắt mở ra trang sử mới, trang sử hào hùng thời Ân.
    Trụ Vương đang u sầu, nghe Vưu Hồn – Bí Trọng nói có lý, tân bốc sướng tai khoái chí vô cùng. Thấy Trụ Vương đắc ý nghe lời sàm tấu của loài nịnh hót Hồ tinh. Mai Bá tâu rằng: Ở đời Thái Hậu, đất Ba Thục có hai vị Chúa Vương là Hồ Xương, Hồ Quảng, Thần thông Pháp thuật vô biên. Có dã tâm lớn muốn nuốt nước Văn Lang. Nhưng đều thất bại bỏ mạng tại sa trường. Sau đó thời tới giặc Hung Di Mũ Đỏ. Là thứ giặc hung hiểm vô cùng, bước chân lên đất Văn Lang liền bỏ mạng không có ngày về.
    Triệu Khải tâu thêm: Muôn tâu bệ hạ: Hạ Thần lâu nay vẩn nghe nói nước Văn Lang có bảy thanh Bảo Kiếm vô cùng lợi hại. Báu vật trấn Quốc, do Quốc Tổ Vua Hùng truyền lại. Nhờ thế nước Văn Lang vững bền Độc Lập, quân Văn Lang bất khả chiến bại.
    Vua Trụ nghe Triệu Khải tâu thế mặt liền biến sắc, thấy Triệu Khải đề cao nước Văn Lang nhân tài báu vật thái quá, Sùng Hầu Hổ liền lên tiếng. Sùng Hầu Hổ tính tình mười phần giống Vua Trụ tám chín phần. Háo sắc, hung dữ, tham lam, xưng hùng xưng bá, luôn coi thiên hạ ở dưới chân. Nghe Thương Dung, Mai Bá, Triệu Khải đề cao đất Nam. Nhân tài, vật báu, Quốc Đạo thái quá. Làm giảm uy phong đất Bắc thời đại bành trướng nhà Ân, thời liền tâu lên Vua Trụ rằng. Muôn tâu bệ hạ: Đời Ân ta so với các đời trước thời thế lực, vật lực, binh khí, nhân tài mạnh lên gấp hàng chục lần. Có thể nói là tột đỉnh. Nếu đem so với nước Văn Lang về mặt nào chỉ có hơn chứ không kém. Nhân sự, quân sự, chính trị, binh lính, đều hơn hẳn nước Văn Lang, gấp đôi, gấp ba, gấp bốn lần. Hơn nữa đất Ba Thục là do đời Ân ta cai quản. Hồ yêu, Hồ ma là con cháu của Hồ Xương, Hồ Quảng, từ thời nhà Hạ di cư xuống. Nên có mối tình giao hảo thời Ân Thương chúng ta. Sức mạnh đất Bắc chúng ta dời núi lấp sông. Chưa giao chiến sao biết là không thắng. Theo tôi nghỉ nước Văn Lang chỉ là con cọp đất nắn nặn lên mà thôi. Trụ Vương thấy Sùng Hầu Hổ gải đúng chổ ngứa, khoái chí cười lên ha hả. Ta cũng muốn xem Nam Ban lợi hại như thế nào. Thấy Vua Trụ đã Quyết, các Quan các Tướng chẳng giám hớ môi.
    Đây nói về Vi Tử Khải, Vi Tử Điển là anh của Vua Trụ. Không được chọn lập lên ngôi Hoàng Đế. Tuy không phản đối nhưng lòng lúc nào cũng buồn rười rựơi. Nghỉ! Đây là cơ hội ngàn vàng. Nếu chiếm được nước Văn Lang thời ta xưng Vương ở đó. Mặc sức tha hồ mà hưởng. Liền tâu lên Vua Trụ rằng. Hạ Vương cũng muốn tham gia cuộc chiến lập công góp sức cùng Bệ Hạ Vua Trụ lấy làm ngạc nhiên, không nghi ngờ gì phê chuẩn cho đi Thế là:
    Lòng tham bùng dậy đá sắt tiêu
    Bất chấp lời khuyên chết cũng liều
    Binh hùng tướng mạnh rền đất Bắc
    Hung tin nghìn dặm sấm vang kêu
    Bầu trời u ám sa bảo táp
    Beo gầm sói hụ hiện quỹ yêu
    Cuồn cuộn mây đen bay cùng khắp
    Trời Nam dân chúng khổ lên nhiều.
    ***************
    Cuộc chiến xâm lượt của Phương Bắc lần đầu tiên vào nước Văng Lang như thế nào mời các bạn xem qua BỘ VĂN LANG CHIẾN SỰ 1 SẼ RÕ.
    http://caoducthangqn.blogspot.com/2016/09/van-lang-chien-su-1-quyen-1.html

    Cao Đức Thắng Tháng Mười Hai 24, 2016 1:26 sáng

Leave a Comment

Powered by themekiller.com anime4online.com animextoon.com apk4phone.com tengag.com moviekillers.com