3. NHỮNG HỌ VIỆT CỔ Ở ĐÔNG VÀ NAM TRUNG QUỐC

11 tháng ago
1204 Views

3. NHỮNG HỌ VIỆT CỔ Ở ĐÔNG VÀ NAM TRUNG QUỐC

Ngày nay sự thật lịch sử đã được phục hồi sau hàng ngàn năm bị che phủ bởi lý của kẻ mạnh. Sự thật lịch sử đã xác nhận là lãnh thổ của nước Xích Quy rồi Văn Lang của Việt tộc thời xưa còn ở lưu vực 2 con sông Hoàng Hà Dương Tử của Trung Quốc bây giờ. Suốt dòng lịch sử Việt, người Việt cổ đã phải thiên cư rời bỏ địa bàn sinh tụ trước kẻ thù Hán tộc xâm lăng phương Bắc chạy xuống phương Nam. Số còn lại trải qua hàng ngàn năm thống trị của Hán tộc với chủ trương đồng hoá, buộc họ phải theo phong tục tập quán Hán. Thế nhưng, trải qua hàng ngàn năm bị nô dịch nhưng họ vẫn giữ bản sắc Việt nên tuy sinh hoạt giống như người Hán nhưng không bao giờ hoá thành người Hán được.

Chính vì vậy, tuy cùng gọi là người Trung Quốc nhưng người ở miền Nam Trung Quốc và người ở miền Bắc Trung Quốc khác nhau hoàn toàn từ con người đến đời sống văn hoá, phong tục tập quán. Người Miền Nam Trung Quốc vẫn gọi nhau bằng họ như ông Trần, ông Lý… chứ không gọi bằng tên chính để nhận biết, trân trọng cội nguồn Việt cổ của tổ tiên họ. Như vậy, người dân ở miền Nam TQ hiện nay là người Trung Quốc gốc Việt cổ nên họ của dân Hoa Đông, Hoa Nam chính là họ Việt như họ Lý, Lưu, Trương, Mai, Lâm, Trịnh …

Ngay từ thời Chu khi Hồ Công lấy công chúa Chu, vua Chu cắt đất Trần phong cho Hồ Công. Hồ Công lấy đất phong lập ra triều Trần của dòng họ Trần ở lưu vực phía Đông sông Dương Tử. Sử sách Việt ghi tổ tiên của Lê Quý Ly và Nguyễn Huệ tên thật là Hồ Thơm vốn họ Hồ ở đất Trần là người Việt cổ. Hồ Quý Ly đặt tên nước là “Đại Ngu” hàm nghĩa là dòng dõi vua Thuấn họ Ngu. Hồ Quý Ly nuôi tham vọng mở ra triều đại thanh bình thịnh trị như thời Đường Ngu tức Nghiêu Thuấn thuở xưa nên mới đặt tên nước là Đại Ngu. Theo các nhà nghiên cứu thì Ngu về sau trại âm ra là Âu, Ngu Cơ=> (Ou Cơ) => Âu Cơ. Chữ Cơ có nghĩa là người con gái xinh đẹp nên truyền thuyết Rồng Tiên với mẹ Âu Cơ nghĩa là mẹ Âu xinh đẹp như tiên.

Trong suốt trường kỳ lịch sử, Bách Việt ở Nam Trung Quốc luôn vùng lên giành lại đất Tổ Trung Nguyên mỗi khi Hán tộc suy yếu. Thời Xuân Thu Chiến Quốc, các quốc gia Bách Việt của con Rồng cháu Tiên như Việt, Ngô rồi Sở nhiều lần đánh thắng các nước lên ngôi Bá chủ Trung nguyên. Thế nhưng do ở rải rác khắp trung nguyên, giới lãnh đạo vì quyền lợi cá nhân dòng họ đã gây chiến tranh chém giết lẫn nhau để rồi cuối cùng bị đế quốc Tần tiêu diệt.

Khi triều Tần xụp đổ, Hạng Võ người Sở Việt cùng Lưu Bang người Hán quyết chiến một mất một còn giành quyền làm chủ Trung nguyên. Hạng Võ ỷ tài “Lực bạt sơn hề khí cái thế”, anh hùng khí đoản nên kiêu căng không nghe lời của quân sư Phạm Tăng nên bị Lưu Bang vây khốn phải tự sát. Thế là chấm dứt thời kỳ “Hán Sở Tranh Hùng” nên Trung nguyên lại về tay Hán tộc để lại bao thương tiếc cho người dân Sở Việt ở Hoa Nam.

Kẻ thù Hán tộc phương Bắc vốn là một tộc người du mục đời sống buộc phải có tổ chức, đoàn kết, sức mạnh võ biền, rất thạo việc chiến tranh, thiên về lý trí nên tình cảm lạnh lùng đến mức khô cằn. Trong khi đó, các nước Bách Việt ở phương Nam định cư rải rác khắp Trung nguyên là cư dân nông nghiệp đời sống thiên về tình cảm, thịnh về văn hoá nhưng kém về võ lực nên Hán tộc thắng một cách dễ dàng.

Mặt khác, các quốc gia Bách Việt ở tản mạn khắp Trung nguyên nên vì quyền lợi quốc gia, xem nhẹ tình đồng chủng nên không biết đoàn kết để thống nhất sức mạnh mà thường đánh lẫn nhau để giành ngôi vị thủ lĩnh. Thời Xuân Thu Chiến Quốc với sự hưng thịnh của Ngô, Việt, Sở vùng lên làm bá chủ Trung Quốc một thời gian, sau đó Ngô lại đánh Việt, Việt diệt Ngô rồi Sở diệt Việt để rồi cuối cùng lại bị Hán tộc thống trị như cũ.

Cuối đời Đường, tình hình Trung Quốc tam phân ngũ liệt nên sử sách gọi thời kỳ này là thời Ngũ đại Thập quốc. Ở miền Bắc gồm 5 triều đại nối tiếp là: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu được xem là chính thống của Trung Quốc. Trong khi đó ở miền Nam, cư dân Hoa Nam gốc Việt nổi lên giành độc lập và thành lập 10 nước Bách Việt gồm:

– Nước Ngô do Dương Hành Mật lập ra ở An Huy.
– Nước Thục do Vương Kiến thành lập ở Tứ Xuyên.
– Ngô Việt do Tiền Cù thành lập ở Triết Giang.
– Nước Sở do Mã Ân lập ra ở Hồ Nam.
– Nước Mân do Vương Thẩm thành lập ở Phúc Kiến của Mân Việt.
– Nước Nam Hán do Lưu Ẩn thành lập ở Quảng Đông. Thực ra tên nước lúc ban đầu lấy tên rặng núi Ngũ Lĩnh ở Hoa Nam là Đại Việt đặt tên nước, rồi về sau đổi là Nam Hán vì ở phía Nam sông Hán.
– Nước Nam Bình do Cao Bảo Dung thành lập ở Hồ Bắc.
– Nước Hậu Thục do Mạnh Trí thành lập ở Tứ Xuyên.
– Nước Nam Đường do Lý Thắng thành lập ở Giang Tô.
– Nước Bắc Hán do Lưu Sùng thành lập ở Sơn Tây, Bắc sông Hán.

Thực tế này được nhà Trung Hoa học, học giả H. Wiens nhận xét một thực trạng đau lòng là “Bao nhiêu cuộc trổi dậy của Bách Việt đều thất bại vì người Lĩnh Nam tự phá lẫn nhau…”.

Lịch sử đã chứng minh khi các chi Việt thuộc các nước Ngô, Việt, Sở bỏ Hoa Nam chạy xuống Bắc và Trung Việt Nam hợp nhất với Lạc Việt và các chi Việt khác định cư tại đây từ trước tạo nên một sức mạnh tổng lực nên đã đánh thắng bao cuộc xâm lược của Hán tộc để tồn tại mãi tới ngày nay. Thế là từ huyền thoại đến hiện thực lịch sử đã minh nhiên xác định Việt tộc bao gồm rất nhiều chi tộc như Lạc Việt, Âu Việt, Mân Việt, Dương Việt, Đông Việt, Liêu Việt, Quỳ Việt, Điền Việt, Kiềm Việt, La Việt… Sử gia Tư Mã Thiên trong bộ Sử Ký đã viết: “Nước Sở, nước Việt đều là dân Việt. Dân nước Sở họ Mị, dân nước Việt họ Tự (Từ)”.

Nhà nghiên cứu Tscheppe ghi nhận Ngô Phù Sai, Ngô Hạp Lư, Việt Vương Câu Tiễn đều là họ Việt. Người Mường là người Việt cổ sơ còn giữ được một vài họ cổ là họ Ai, họ Kem, họ Khói, họ Sa, họ Xạ. Hiện nay đồng bào Mường còn giữ một số họ như Bạch, Bùi, Cao, Đinh, Hà, Hoàng, Lê, Phạm, Quách, Trịnh, Xa … trong đó Đinh, Quách, Bạch, Hoàng là nhiều nhất.

Cổ sử Trung Quốc cho biết Hoàng Đế Li Vưu, cổ thiên tử là thủ lĩnh của Tam Miêu chính là đồng bào Hmong Mien gồm đồng bào Dao và Miêu (Mèo) trước đây một thời làm chủ Trung nguyên. Tất cả đồng bào thiểư số đều là những chi tộc Việt, là anh em cùng chung một bào thai của mẹ Âu nên chúng ta vẫn gọi nhau một cách thân thương là đồng bào, là bà con cô bác, chú dì, anh chị… Vì vậy, không có dân tộc nào là dân tộc Kinh và chúng ta không thể xem đồng bào thiểu số là người dân tộc Dao, dân tộc Mường, dân tộc Tày như bộ Lịch sử Việt Nam của tập đoàn Việt gian bất nhân hại dân bán nước, của cái gọi là nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam…

Nói tóm lại, Cội nguồn trăm họ phát xuất từ truyền thuyết Rồng Tiên khởi nguyên dân tộc “Mẹ Âu sinh trăm trứng nở ra trăm người con trai”. Suy nghiệm những hàm tàng ẩn chứa trong truyền thuyết cho chúng ta những nhận định sau:

1. Dân tộc nào cũng có những truyền thuyết khởi nguyên của dân tộc. Truyền thuyết là bức thông điệp từ ngàn xưa gửi gấm cho ngàn sau truyền thuyết có vẻ huyền hoặc nhưng không hoang đường như chúng ta nghĩ.

2. Truyền thuyết khởi nguyên dân tộc Việt gợi mở cho chúng ta thấy rằng “Trăm người con đi khai phá rừng lập ấp, theo thời gian trở thành trăm giống Việt (Bách Việt)”. Sự hiện hữu của các nước Việt mà cổ sử TQ chép là Bách Việt đã chứng minh tính hiện thực của truyền thuyết.

3. Từ ý niệm trăm trứng trong cùng một bào thai nên chỉ dân tộc chúng ta mới có 2 chữ Đồng Bào thân thương ruột thịt. Cũng từ ý niệm trăm người con trai chia nhau đi khai rừng lập ấp dẫn tới ý niệm trăm họ mà dân gian gọi là bách tính, bá tánh… là của Việt Nam mà Tàu Hán không có.

4. Mẹ Âu Cơ mà dân gian Việt cổ tôn thờ Vật Tổ biểu trưng là Chim Phượng Hoàng nên truyền thuyết mới kể là sinh ra trăm trứng nở thành trăm con trai. Vấn đề đặt ra là tại sao tiền nhân chúng ta lại chọn vật tổ biểu trưng là Rồng và Chim. Là cư dân nông nghiệp sống về nghề trồng lúa nước ở miền đồng bằng sông nước lưu vực 2 con sông Hoàng Hà Dương Tử nơi có những con Giao Long, những con thuồng luồng mà người Mường ở thượng du Bắc Việt gọi là Prudông… lâu dần đọc trại âm ra là Rồng… Từ đó, người Việt cổ đã thánh hóa là Long, Rồng bay lên trời phun nước xuống cho dân gian cày cấy.

Cũng vậy, theo truyền thuyết Mẹ Âu dẫn 50 con ở lại miền cao mà sách sử gọi là chi Âu Việt từ miền rừng núi ở Tam Giang Bắc (Sông Vị-sông Hoàng-sông Lạc) di chuyển xuống tới Tam Giang Nam (Sông Nguyên-sông Tương và sông Dương Tử).

Người xưa đã thi vị hóa sự kiện này qua hình ảnh đàn chim bay về hướng Đông Nam để tìm ánh sánh mặt trời nên đã chọn chim Hồng Chim Hạc, chim Phượng Hoàng là vật tổ biểu trưng cho dòng giống. Từ hình ảnh chim Phượng Hoàng thánh hóa từ con chim Trĩ (con Công) bay vút lên trời cao thành những nàng Tiên với đôi cánh thiên thần…

Các nhà ngôn ngữ học đã chiết tự chữ Tiên gồm 2 chữ là Sơn và Nhân nên hiểu một cách nôm na là người ở trên miền rừng núi đó là chi Âu Việt trong Bách Việt của chúng ta. Nói tóm lại việc chọn Rồng Tiên là vật Tổ không mang tính tôn giáo thờ vật tổ mà mang một ý nghĩa biểu trưng của nòi giống Việt đã trở thành niềm tự hào về tính hiện thực của truyền thuyết khởi nguyên dân tộc.

Đặc biệt, chúng ta cùng tìm về ý nghĩa của hai chữ Bách Việt, tức Trăm giống Việt của chúng ta và tại sao tập đoàn Việt gian bán nước đã sửa đổi lịch sử kéo lùi niên đại lập quốc Văn Lang? Tại sao tập đoàn Việt gian bán nước lại đưa ra luận điểm cho rằng Việt Nam là Lạc Việt chỉ cư trú ở một phần Quảng Tây và ở Việt Nam cùng một lúc với luận điệu bành trướng Bắc Kinh rêu rao Lạc Việt đã trở về với Bách Việt?

Comments

Leave a Comment

Powered by themekiller.com anime4online.com animextoon.com apk4phone.com tengag.com moviekillers.com