CẬU BÉ NHÀ TRỜI 2

3 tháng ago
47 Views

TỪ HUYỀN TÍCH CẬU BÉ NHÀ TRỜI …

Tất cả người Việt Nam chúng ta ai ai cũng biết Phù Đổng Thiên Vương là cậu bé nhà Trời ở làng Gióng mà dân gian thường gọi một cách sùng kính thân thương là Thánh Gióng. Truyền thống dân gian Việt trân trọng những anh hùng dân tộc, những danh nhân văn hóa, những người cứu nhân độ thế được thần thánh hóa hòa nhập cùng linh khí của đất nước tạo thành hồn thiêng sông núi. Cho đến nay các nhà viết sử cũng chưa xác định rõ được tính xác thực cũng như thời điểm của huyền tích Phù Đổng Thiên Vương nên câu truyện “Cậu bé nhà Trời” vốn thần kỳ lại trở nên huyền hoặc hơn. Thế nhưng trong niềm tin sâu thẳm của dân gian vẫn hiển hiện một Thánh Gióng, Phù Đổng Thiên Vương phá tan giặc Ân cứu dân cứu nước để dân tộc Việt tồn tại mãi tới ngày nay. Chúng ta hãy cùng nhau thả hồn về quá khứ để cùng sống thật với huyền tích “ Thánh Gióng”, cậu bé nhà Trời của làng Phù Đổng thuở xa xưa ….

Truyện Thánh Gióng trong “Lĩnh Nam Trích Quái” chép rằng: “Vào đời Hùng Vương thứ 6, thiên hạ thái bình, dân gian sống sung túc đầy đủ. Vua Ân lấy cớ nước ta thiếu lễ vật triều cống nên mượn cớ đi tuần thú để xâm chiếm nước ta. Vua Hùng nghe tin vội triệu tập quần thần vào triều bàn kế hoạch chống quân Ân xâm lược bảo vệ đất nước. Mọi người đều nhất loạt tâu với vua xin lập “đàn” cầu Đức Long Quân về để nhờ sức âm phù mới thắng được giặc. Nhà vua cho lập đàn rồi trai giới thanh tịnh, sắm lễ vật vàng bạc lụa là đầy đủ rồi thắp nhang cầu khẩn suốt 3 ngày. Sắp hết ngày thứ ba, bỗng nhiên sấm chớp đùng đùng rồi một cụ già cao lớn tiên phong đạo cốt, râu tóc bạc phơ ngồi giữa ngã ba đường cười nói múa hát. Dân quanh vùng kéo đến xem cho là bậc phi thường xuất hiện nên tâu lên vua.

Vua Hùng thân hành ra bái yết rước cụ già lên “đàn”. Cụ già không ăn uống gì và cũng chẳng nói năng gì mà chỉ nhắm mắt lim dim như đang cầu nguyện điều gì…. Nhà vua tới quỳ trước mặt ông cụ rồi mạnh dạn hỏi: “Thưa cụ nếu nay mai giặc Ân kéo đến đánh chiếm nước ta thì phải làm sao, xin cụ chỉ bảo cho”. Ông cụ ngồi yên lặng, một lát sau rút thẻ ra bói rồi mới nói với vua rằng: “Ba năm nữa giặc Ân mới sang quấy phá, vậy nay từ bây giờ phải lo rèn đúc chiến cụ, luyện tập binh sĩ cho thuần thục, sẵn sáng đánh giặc cứu nước. Đồng thời cho người đi rao tìm khắp trong nước tìm kiếm nhân tài, nếu có người tài giỏi ra giúp nước thì lo gì mà không phá được giặc Ân”. Nói rồi ông cụ bước lên không mà bay lên trời.

Nhà vua biết là Đức Long Quân giáng phàm để chỉ dậy nên cúi đầu quỳ lạy tạ hồi lâu. Vua Hùng nghe lời chỉ dậy của Long Quân cho sứ giả đi khắp nước tìm người tài giỏi ra giúp nước. Đã gần hết 3 năm nhưng vẫn chưa thấy ai ra giúp nước, bỗng một hôm sứ giả đến làng Phù Đổng thuộc quận Vũ Ninh. Trong làng có một người nhà giàu đã hơn 60 tuổi ở vậy nên không có con để nối dõi tông đường. Một hôm bà cụ bước ra ngoài vườn hái cà, vô tình đạp phải dấu chân khổng lồ chợt rùng mình, sau về nhà tự nhiên mang thai sinh hạ được một bé trai khôi ngô tuấn tú. Đứa bé ngày một lớn, đã lên 3 tuổi rồi mà vẫn chưa biết nói chỉ nằm ngửa chứ không chịu ngồi dậy. Bà mẹ thấy sứ giả đến kêu gọi người tài ra giúp nước, chạnh lòng bà nói với con rằng: “Sinh được con trai mẹ mừng lắm, thế mà con chỉ biết ăn rồi nằm chẳng chịu đi đánh giặc giúp nước giúp dân. Chẳng bõ công mẹ mang nặng đẻ đau, bú mớm nuôi nấng bấy lâu nay ..!”.

Cậu bé nghe mẹ nói vậy đột nhiên ngồi bật dậy, cất tiếng nói oang oang: “Mẹ cứ ra mời sứ giả vào đây để con hỏi xem có việc gì mà nhà vua kêu gọi vậy?”. Bà mẹ vui mừng kinh ngạc chạy đi khoe với cả làng rằng: “ Bà con ơi, con tôi thằng bé đã biết nói rồi, nó lại còn đòi gặp sứ giả của nhà vua nữa các bác ạ. Tôi mừng và cũng lo quá chẳng biết làm sao?”. Mọi người trong làng thấy việc lạ lùng nên kéo nhau đến nhà xem đông nghịt rồi bảo bà mẹ cứ mời sứ giả đến xem sao. Bà mẹ vội cho mời sứ giả đến. Sứ giả tới thấy thằng bé mới có 3 tuổi thì nói: “Cháu còn bé mới chỉ vừa biết nói mà kêu ta đến đây làm gì?”. Đứa bé đột nhiên đứng dậy bảo với sứ giả rằng: “Nhà ngươi lập tức về tâu với nhà vua đúc cho ta một con ngựa sắt cao 18 thước, một gươm sắt dài 7 thước, một cái nón sắt để ta đội đi đánh giặc, giặc sẽ tan tành nhà vua việc gì phải lo”.

Sứ giả vội phi ngựa về tâu lên vua Hùng sự kiện lạ thường này. Nhà vua mừng lắm nhưng một số triều thần dị nghị cho rằng một đứa bé thì làm sao mà phá được giặc? Nhà vua nói: “Đó chính là Long Quân giúp ta đấy. Các ngươi còn nhớ lời Đức Long Quân nói 3 năm về trước không? Các ngươi chớ nên ngờ vực mà đắc tội với Long Quân”. Nói xong nhà vua cho người đi khắp nơi trong nước tìm sắt rồi cho rèn đúc thành ngựa sắt, roi sắt và nón sắt đem tới cho cậu bé. Bà mẹ thấy vậy lấy làm kinh sợ lo lắng, sợ con mình không làm được nhưlời nói với nhà vua sẽ đắc tội khi quân nhưng cậu bé vui cười nói với mẹ rằng: “Mẹ xem trong nhà còn gì ăn để con ăn xong sẽ lên đường đi đánh giặc, mẹ đừng lo sợ gì cả.” .

Bà mẹ đem hết gạo trong nhà ra nấu cơm cho cậu bé ăn nhưng nấu đến đâu cậu bé ăn hết ngay mà chẳng thấm tháp vào đâu. Hàng xóm láng giềng thấy vậy, đua nhau mang từng nong cơm, từng vại cà mắm, từng hũ rượu. Dân làng còn làm thịt thêm một con trâu nhưng cậu bé ăn vẫn chưa no bụng. Khi dân làng hốt hoảng báo tin cho nhau biết quân Ân đã đánh chiếm núi Trâu Sơn thì cậu bé đột nhiên duỗi chân rồi vươn vai, mỗi lần vươn vai đứng dậy thì thân thể cao lên vùn vụt. Dân làng vô cùng kinh ngạc trầm trồ thán phục. Cậu bé bỗng chốc đã cao tới 18 trượng, áo quần không đủ che thân, dân làng phải lấy cây bông lau để cho cậu che thân.

Cậu bé hắt hơi liền mười tiếng rồi vung gươm thét lớn: “Ta là tướng nhà trời đây!” Thét xong, cậu bé đội nón nhảy lên lưng ngựa sắt phóng như bay về hướng núi Trâu Sơn. Quân lính và cả dân làng chạy theo ào ào. Cậu bé vung gươm sắt tả xung hữu đột giết quân giặc không biết bao nhiêu mà kể. Cho tới khi roi sắt gãy, cậu bé nhổ cả bụi tre để đánh giặc. Quân Ân kinh hồn bạt vía mạnh ai sống sót tháo chạy thục mạng, bỏ cả xác vua Ân nằm chết giữa trận tiền. Số sống sót quỳ lạy xin tướng nhà Trời tha mạng. Cậu bé tha chết cho chúng rồi phi ngựa lên núi Việt, cởi bỏ mũ áo rồi phi ngựa bay thẳng lên trời …”.

Sau khi phá tan giặc Ân, vua Hùng nhớ ơn “Cậu bé nhà Trời” làng Phù Đổng nên phong tặng suy tôn là Phù Đổng Thiên Vương. Đến đời nhà Lý, vua Lý Thái Tổ truy phong là Xung Thiên Thần Vương và truyền cho tạc tượng ở núi Vệ Linh, lập đền thờ bên cạnh chùa Kiến Phúc ở làng Phù Đổng. Hàng năm Xuân Thu nhị kỳ (mỗi năm 2 lần) đều tổ chức tế lễ trọng thể.

Cho đến ngày nay dân gian vẫn truyền tụng mãi câu thơ tưởng nhớ công lao của Phù Đổng Thiên Vương:

“ Vệ Linh năm tháng đám mây nhàn,
Muôn tía ngàn hồng chiếi thế gian ..
Ngựa sắt lên trời danh lưu sử,
Phù Đổng Thiên Vương của nước Nam ..!”

ĐẾN HIỆN THỰC LỊCH SỬ

1. GIẶC ÂN XÂM LƯỢC LÀ MỘT SỰ THỰC LỊCH SỬ

Ngày nay, các nhà Trung Hoa học đều cho rằng lịch sử Trung Quốc chỉ mới bắt đầu từ triều đại Thương Chu. Tộc Thương là tộc người du mục ở Tây Bắc nên có quan hệ huyết thống với Mông Cổ mà sách sử xưa gọi là Hung Nô (Huns) và Thổ Nhĩ Kỳ (Turc). Tộc người này có nền văn minh du mục, biết nuôi ngựa và biết sử dụng cung tên chiến xa là xe tứ mã do 4 con ngựa kéo được che chắn như chiến xa ngày nay, là ưu thế quân sự của du mục phương Bắc nên đánh thắng nhà Hạ của Việt tộc sống về nghề nông một cách dễ dàng.

Cổ sử Trung Quốc chép: “Thành Thang tên Lý được nhà Hạ phong ở đất Thương, sau họp với chư hầu đem quân về tiêu diệt nhà Hạ. Thành Thang lên ngôi, đóng đô ở Hà Nam, đặt tên nước là Thương. Triều Thương kéo dài 612 năm kể từ năm 1766 đến 1154 TDL gồm 39 đời vua. Đến đới Bàn Canh (1401-1374 TDL) dời đô về đồi Ân nên đổi tên nước là Ân từ đó”.

Bàn Canh chủ trương tiêu diệt Việt tộc để mở rộng lãnh thổ xuống phương Nam như lời Ngũ Tử Tư viện dẫn lời Bàn Canh chép trong bộ Sử Ký của Tư Mã Thiên như sau: “Nước Việt là cái bệnh trong gan ruột của ta. Nay nhà vua nghe những lời phù phiếm, dối trá của nó mà tham đất Tề, đem quân đánh Tề. Tề cũng ví như ruộng đá không dùng vào được việc gì. Vả lại, bài cáo của Bàn Canh trong Kinh Thi có nói là có bọn cuồng loạn láo xược phải giết hết đi để cho chúng không còn con cháu một mống nào, không cho chúng làm hại cái giống tốt ở ấp (nước) này … Đó là điều làm cho triều Thương hưng thịnh. Xin nhà vua bỏ Tề mà đánh nước Việt trước. Nếu không làm thế thì sau này có hối cũng không kịp nữa …”.

Như vậy, huyền tích Phù Đổng Thiên Vương chép trong Lĩnh Nam Trích Quái phải xảy ra vào khoảng sau thời điểm 1.401-1374 TDL là thời vua Bàn Canh của triều Ân. Để làm sáng tỏ sự kiện lịch sử này chúng ta phải căn cứ vào các nguồn thư tịch cổ cùng với một số “Ngọc Phả” như:

– “Bách Việt Ngọc Phả Truyền Thư” ở làng Vân Nội xưa kia thuộc Thanh Oai Hà Nội do Tộc trưởng Nguyễn Đức chép Gia Phả và Quốc Phả ghi rõ năm thứ tư Tân Mùi 971, niên hiệu Thái Bình Thiên quốc đời Đinh Tiên Hoàng.

– “Nam Việt Hùng Vương Ngọc Phả Vĩnh Truyền” soạn ngày 25 tháng giêng niên hiệu Thiên Phúc năm thứ nhất đời vua Lê Đại Hành tức năm 980.
– “Cổ Việt Hùng Thị Thập bát diệp Thánh vương Ngọc phả Cổ truyện” do Hàn Lâm viện Trực học sĩ Nguyễn Cố soạn năm Hồng Đức Đệ tam niên tức năm Nhâm Thìn 1472 đời vua Lê Thánh Tông.

– “Hùng Vương Sự tích Ngọc phả Cổ truyện” của Nguyễn Như Đỗ thời Lê biên soạn.

– “Ngọc phả” Xã Hi Cương Vĩnh Phú và các xã quanh vùng đền thờ vua Hùng.

Theo các nguồn thư tịch này thì không phải là 18 đời mà là 18 chi, mỗi chi gồm nhiều đời vua. Thứ tự 18 chi tính theo thập Can và thập nhị Chi là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí, Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Mỗi vị vua đứng đầu một chi phong cho nhiều nhánh. Tất cả đều lấy vương hiệu của vị vua đứng đầu chi ấy. Theo các nguồn thư tịch này thì chi Đoài tức tức là chi thứ 8 ghi rõ: “Hùng Vĩ Vương huý Văn Lang, sinh năm Nhâm Thìn 1469 TDL, lên ngôi năm 39 tuổi, truyền 5 đời vua đều xưng là Hùng Vĩ Vương. Chi này ở ngôi tất cả 100 năm từ năm Canh Ngọ 1431 TDL đến năm 1332 TDL ngang với thời Bàn Canh của triều Ân Trung Quốc”.

Tuy gọi là chi thứ 8 nhưng nếu trừ Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân thì đúng như Lĩnh Nam Trích Quái chép là Hùng Vương thứ sáu. Thực tế này lại phù hợp với truyện cổ tích họ Hồng Bàng kể rằng năm mươi con theo mẹ cùng cử người con trưởng lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là “Văn Lang”. Thực tế lịch sử này được chính cổ sử Trung Quốc chép: “Đời Cao Tông nhà Ân vượt Hà đánh nước Quỷ Phương, đóng quân ở đất Kinh”. Trong Chu dịch phần quẻ Ký Tế, hào 3 có nói: “Vua đánh các nước Quỷ 3 năm mới được, chớ dùng tiểu nhân …”. Như vậy huyền tích Phù Đổng được xác định bởi cổ sử Trung Quốc cho ta biết là việc giặc Ân tiến đánh Văn Lang là có thật.

Thực tế lịch sử cho ta thấy rằng lãnh thổ Văn Lang thời đó còn ở vùng Quý Châu khắp miền Nam Trung Quốc. Thế mà các sử gia của ta từ trước đến giờ nhất là các nhà sử học Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam viết sử theo “Nghị quyết” của đảng Cộng sản nên dựa vào sách sử của Hán tộc, chép rằng 15 bộ của nước Văn Lang xưa chỉ nằm gọn trong phạm vi Bắc và Trung Việt Nam. Sự kiện ở huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh có làng Phù Đổng do tiền nhân mang theo địa danh xưa cũ đặt tên cho vùng đất mới nên vội cho rằng bộ Vũ Ninh là ở tỉnh Bắc Ninh.

Thực tế lịch sử chứng minh rằng cách đây hàng mấy ngàn năm, giặc Ân mới chỉ từ miền Bắc Trung Quốc vượt qua sông Hoàng Hà tiến xuống phía Nam đánh nước Quy Phương thì làm sao mà đánh Vũ Ninh ở Bắc Ninh Bắc Việt được? Chính vì “sử quan bị đóng khung” sợ mích lòng quan thầy Trung Cộng nên giải thích sự việc một cách mù mờ khiến huyền tích Phù Đổng càng trở nên huyền hoặc khó hiểu hơn.

Theo Vũ Quỳnh trong “Tân Đính Lĩnh Nam Trích Quái” thì triều Thương có điều quân đi đánh bốn phương, giặc Ân có xuống đến Quý Châu cùng với bộ tộc Thi La Quỷ đánh nước ta vào thời Hùng Vương thứ 6. Nhà nghiên cứu Bùi văn Nguyên trong tác phẩm “Kinh Dịch Phục Hi” xác định vua Cao Tông triều Ân tên là Vũ Định, con của đế Tiểu Ất, cháu của Bàn Canh có đem quân đi đánh chiếm quanh vùng hồ Động Đình và Quý Châu suốt 3 năm không được phải rút quân về.

Thời kỳ này triều Ân đã khuất phục được bộ lạc Thi La ở phía Nam sông Hoàng Hà. Vũ Định lấy con gái của thủ lĩnh Thi La nên mới dám vượt sông Hoàng Hà cùng với Thi La tiến đánh Văn Lang. Gần đây giới khảo cổ Trung Quốc đã tìm thấy phần mộ của hoàng hậu Phụ Hảo, vợ của vua Vũ Định triều Ân. Khi khai quật ngôi mộ, các nhà khảo cổ tìm thấy 2 lưỡi búa “ Phủ Việt” lớn, mỗi cái nặng hơn 9 kg và 2 lưỡi búa nhỏ có khắc tên Phụ Hảo. Theo các nhà nghiên cứu thì Phụ Hảo nguyên là một phương sĩ vì có lúc bà ta đã thay Vũ Định tế lễ hoặc đoán quẻ trên mu rùa. Phụ Hảo còn là nữ danh tướng có lần đã thống lĩnh cả vạn quân lính và tướng lĩnh giúp chồng đánh thắng Thổ Phồn tức Tây Tạng bây giờ, nước Ba và Khương tức chi Môn-Khmer của Việt tộc ở vùng Ba Thục, Quý Châu Trung Quốc bây giờ.

Căn cứ vào loại vũ khí Phụ Hảo sử dụng là lưỡi búa Phủ Việt đặc biệt của Việt tộc cũng như tên Phụ Hảo là cấu trúc văn phạm Việt chứ không phải Hán vì nếu là người Hán thì phải viết là Hảo Phụ. Mặt khác, bà ta lại được chôn riêng chứ không chôn chung với chồng cho phép chúng ta kết luận Phụ Hảo là người Việt, con của thủ lĩnh Thi La nên đã theo chồng đánh lại đồng chủng. Thời kỳ này, ý niệm đồng chủng còn mơ hồ vì tuy đồng chủng nhưng thiên cư từng đợt khác nhau và cách nhau cả ngàn năm nên thủ lĩnh các chi tộc thường đánh lẫn nhau vì quyền lợi riêng tư và để giành ngôi thủ lĩnh liên minh các bộ lạc mà thôi.

Sách sử cổ Trung Quốc chép nước Quỷ Phương ở Quý Châu, thực tế vùng đất này là Xích Quy Phương thời Kinh Dương Vương lập nước Xích Quy. Đến đời Hùng Vương lấy tên nước là Văn Lang nên vị vua Hùng chi Hùng Vương thứ 8 là Hùng Vĩ Vương húy Văn Lang thì bị giặc Ân đem quân vượt sông Hoàng Hà xuống đánh. Tuy đánh chiếm được phần đất này nhưng vua Ân là Vũ Định vẫn nơm nớp lo sợ nước Việt, thực tế này được ghi chép rõ trong Giáp cốt văn thời Thương. Theo nhà nghiên cứu Meacham thì chữ Việt chỉ nước Việt xuất hiện vào thời Vũ Định đến 130 lần. Nhà nghiên cứu Henry cho biết thêm nội dung một số đoạn giáp cốt văn như “Có phải Việt sẽ đến không?” “Liệu sẽ lấy được Việt không?”. Nhà nghiên cứu Keightly (1983) xác định nước Việt ở Nam Sơn Tây và vua Việt đích thân cầm quân với các biểu trưng riêng của mình trên các đồ đồng tế lễ. Thế mà, sử triều Thương không nhắc tới nước Hạ mà chỉ nhắc tới nước Việt, trong khi đó tất cả các bản đồ Trung Quốc cổ, sử quan chính thống đã không hề ghi tên Việt mà chỉ ghi nước Vu (Yu), một tên gọi khác của Việt. Đây là ý đồ thâm độc của Hán tộc xâm lược muốn xóa nhòa cội nguồn tộc Việt trong lịch sử.

Comments

Leave a Comment

Powered by themekiller.com anime4online.com animextoon.com apk4phone.com tengag.com moviekillers.com