HUYỀN TÍCH VIỆT “Cậu Bé Nhà Trời 4”

2 tuần ago
6 Views

2. CƯƠNG GIỚI VĂN LANG ĐỜI VUA HÙNG

Theo cổ sử Trung Quốc thì lãnh thổ triều Thương Ân thời đó chỉ vỏn vẹn phía Nam tỉnh Hà Bắc, phía Tây tỉnh Sơn Đông khoảng 2 tỉnh ngày nay mà thôi. Bao quanh là hàng trăm nước nhưng trên thực tế là những chi tộc trong cộng đồng Bách Việt gồm những dòng họ lớn như họ Thái Hạo là họ của Phục Hi, họ Thiếu Hạo là họ của Thần Nông, họ Doanh, họ Yểm …

Theo sách “Địa lý Tối tân Trung Quốc Phân Tỉnh Đồ” của Trung Quốc do nhà xuất bản Bắc Kinh ấn hành thì nước Quy Phương thời đó là tỉnh Quý Châu bây giờ. Như vậy bộ Vũ Ninh xưa nằm ở Quý Châu, lúc đó có tên là Dạ Lang. Vùng lòng chảo từ Tam Giang Bắc xuống tới Ba Thục là vùng đất đỏ Basalt mới bồi nên “Kinh Thư” gọi vùng này là “ Xích Quy phương”. Chính vì thế mà Kinh Dương Vương đã lấy tên đất vùng này làm tên nước thời cổ đại là Xích Quy. Triều Chu tự cho là văn minh nên gọi các nước khác là quỉ, sau khi đánh thắng 9 nước chư hầu Chu Công Quý lịch đã gọi 9 nước này là cửu quỷ. Các sử gia Hán đã lợi dụng sự đồng âm dị tự của chữ Quy để viết là Quỷ. Hán tộc thâm độc đã triệt tiêu văn tự Việt cổ, bóp méo sửa đổi sự thật lịch sử đã qua hàng ngàn năm nên việc phục hồi sự thật khách quan của lịch sử là vấn đề hết sức cần thiết đặt ra cho mỗi chúng ta, những con dân Việt ngày hôm nay.

Địa bàn cư trú của tộc Việt dòng Thần Nông phương Bắc ở vùng ngã ba sông Vị, sông Lạc và phía Nam sông Hoàng Hà. Chính cư dân Việt cổ đã thành lập nhà Hạ. Khi Thương đánh chiếm nhà Hạ, tộc Việt đã phải chạy sang Tây Bắc, xuống phương Nam. Lạc còn gọi là La là Việt nên nước La gốc ở Tân Trịnh nằm ở vùng sông Lạc Hà Nam, chính là nơi thủ lĩnh Hữu Hùng Thị Đế Hoàng thống lĩnh đánh dẹp Đế Lai và Xi Vưu lên ngôi Cộng Chủ mà Tư Mã . Chính vùng sông Lạc ở Hà Nam là nơi có di chỉ Diêm La Thôn của Lạc Việt. Vì vậy sau khi đánh chiếm nhà Hạ, sách sử chép rằng triều Thương xem nước La là tàn dư của nhà Hạ và Vũ Định đời Ân đã đem quân đánh Xích Quy Phương của Văn Lang.

Trong suốt chiều dài lịch sử kể từ thời lập quốc, Hán tộc du mục luôn xâm lấn nên đã đẩy lùi Việt tộc từ trung nguyên xuống mãi phương Nam để rồi trụ lại trên phần đất Việt Nam hiện tại. Tiền nhân ta có truyền thống là lúc nào cũng hướngvọng về quê cha đất Tổ xa xưa nên mỗi khi phải rời bỏ quê hương thì luôn mang theo địa danh cũ để đặt tên cho vùng đất mới. Chính vì vậy, chúng ta không ngạc nhiên gì khi ở lưu vực hạ lưu sông Hoàng Hà cũng có địa danh Hà Bắc, Hà Nam, Hà Đông, Hà tây và Hà Nội y hệt như ở Bắc Việt Nam bây giờ. Từ Tam Giang Bắc gồm 3 con sông Hoàng, sông Lạc và sông Vị tới vùng sông Bộc ở hạ lưu Hoàng Hà có những địa danh châu Phong, Tuyên Quang, Sơn Tây, Bình Dương, Vũ Ninh … như ở Việt Nam bây giờ với đầy đủ những ấn tích của thời huyền sử xa xưa.

Thật vậy, cũng không phải ngẫu nhiên mà tự xa xưa dân gian Việt đã có câu ca dao: “Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra ..!”. Núi Thái Sơn ở vùng Hoa Dương chân cao nguyên Tây Tạng Côn Luân là nơi sinh tụ của Việt tộc. Về sau chi Lạc bộ Trĩ xuôi Nam dọc theo lưu vực sông Dương Tử rồi lên miền sông Hoài đến Sơn Đông cũng mang theo tên ngọn núi này đặt tên cho ngọn núi cao nhất ở Sơn Đông. Núi Thái Sơn và sông Nguồn ở Sơn Đông đã đi vào tâm thức Việt như để nhắc nhở về nguồn cội gốc tích Việt mà tiền nhân ta đã mở nước cách đây ít nhất là 6 ngàn năm lịch sử.

3. NỀN VĂN MINH KIM KHÍ CỦA VIỆT TỘC

Dấu ấn đặc biệt để lại trong chúng ta mỗi khi nhớ tới huyền tích Phù Đổng Thiên Vương là hình ảnh “Cậu bé nhà Trời” cưỡi con ngựa sắt xông pha trận mạc như chỗ không người. Dẹp xong giặc rồi bỏ áo mũ lại phi ngựa sắt bay vút lên trời cao. Vấn đề là tại sao không cưỡi ngựa thường hay ngựa thần mà lại là ngựa sắt? Phải chăng ngay từ thời vua Hùng thứ 6, Việt tộc đã rèn đúc được vũ khí bằng đồng thau và sắt?

Ngày nay các nhà nghiên cứu đều thừa nhận là trên địa bàn cư trú của đại chủng Bách Việt(Malayo-Protoviets) có 5 trung tâm luyện đồng nổi tiếng. Năm trung tâm này tạo thành một không gian văn hóa hình bình hành mà cạnh trên từ vùng Kinh-Sở ở phía Đông chạy dài sang phía Tây tới vùng Mogaung Bắc Miến Điện, cạnh dưới từ vùng Attsam với 2 thành phố Harappa và Mohenjo Daro phía Đơng Ấn Độ chạy dài tới phía Đông trung tâm Đồng cổ Đông Sơn ở Bắc Trung Việt và ở giữa là trung tâm Vân Nam của Điền Việt.

Kết quả của các công trình nghiên cứu và khảo cổ học đã chứng minh rằng nghề luyện kim đồng thau của Việt tộc đã ra đời từ lâu trước sự ra đời của văn hóa Đông Sơn và đã đạt trình độ hết sức điêu luyện. Thời Đông Sơn là thời kỳ văn hóa rực rỡ của người Việt cổ với nghề luyện kim đồng thau đã đạt đến đỉnh cao. Theo nhà bác học Trung Quốc Lăng Thuần Thanh thì dân “Bộc Việt đã biết chế tạo trống đồng trong khi Hán tộc chưa biết tới đúc đồng là gì”. Khi triều Chu sai Tần Mục Công đánh “Khuyển Nhung” tức người Việt cổ chi Lạc bộ Chuy, Tần Mục Công đã lấy được một chiếc trống đồng của người Lạc Việt.

Ngoài chiếc trống đồng Ngọc Lũ tìm thấy năm 1914 khi đào đất đắp đê sông Hồng, các nhà khảo cổ đã tìm thấy hàng trăm chiếc trống đồng trong lãnh thổ Việt Nam. Ngày nay cả thế giới đều biết đến trống đồng Việt nam, một di vật đồng thau tiêu biểu nhất không chỉ riêng của Việt Nam mà còn là di sản chung của cả nhân loại nữa.

Đồng thau là hợp kim tốt có tỉ lệ đồng hơn 80% và thiếc khoảng 15% chứng tỏ sự phát triển cao của kỹ thuật hợp kim đồng thau cũng như kỹ thuật rèn đúc đã đạt trình độ cao. Các nhà nghiên cứu tìm thấy trong thành phần hợp kim đồng thau có tỉ lệ đồng và thiếc giảm xuống, tỉ lệ chì tăng lên để có một hợp kim dẻo hơn dễ bề tạo các chi tiết khi đúc và trang trí hoa văn hơn. Điểm đặc biệt là tùy theo công dụng của dụng cụ mà thành phần các kim loại trong hợp kim gia giảm như mũi tên đồng Cổ Loa có một tỉ lệ thích hợp để bảo đảm sức xuyên phá và độ bay xa nên người chế tạo đã đúc 95% đồng, chì từ 3,4 đến 4,2% và phần còn lại là kẽm. Trong khi đó, lưỡi dáo Thiệu Dương cũng như các loại rìu phải có tỉ lệ 73,3% đồng và 13,2% thiếc, chì 5,9% để có độ sắc bén vô cùng.

Ngày nay các nhà luyện kim cho rằng hợp kim đồng thiếc chì là một sáng tạo độc đáo với kỹ thuật luyện đồng của người Việt cổ mà đặc trưng là hợp kim đồng thau có hàm lượng chì cao có khi lên tới 20%. Theo các nhà nghiên cứu trong tác phẩm thời đại Hùng Vương thì không phải là đồng trong các đồ đồng nguyên chất lấy trong giới tự nhiên mà là đồng rút ra từ việc lấy quặng.

Từ các quặng đồng quặng chì, cư dân Văn Lang đã luyện được các hợp kim khác nhau như hợp kim đồng chì. Kết quả phân tích quang phổ thành phần hợp kim thời đại Hùng Vương cho biết hàm lượng đồng trong các đồ đồng chiếm từ 80-90%, hàm lượng thiếc từ 10-20%. Hợp kim có tỉ lệ đồng và thiếc như thế là hợp kim tốt có thể dùng để chế tạo các dụng cụ bền và chắc, đặc biệt là tỉ lệ hợp kim tương đối ổn định. Điều này chứng tỏ ông cha chúng ta ngay thời đại Hùng Vương đã có những tri thức vững chắc về kỹ thuật luyện kim.

Năm 1977, nhà Đông phương học người Nga G G. Stratanovich đã nhận định: “Trước đây, thậm chí cả đồ đồng Đông Sơn cũng bị cho rằng bắt nguồn từ phương Bắc. Ngày nay tình hình đã thay đổi, người ta đã biết là không những nguồn quặng đồng phong phú mà cả những mỏ đồng cũng như những mỏ vàng, mỏ bạc khác nữa. Giả thuyết về nguồn gốc phương Nam của đồ đồng triều Thương đã trở nên có cơ sở”. Thư tịch cổ Trung Quốc chép rằng các nước Ngô Việt đã tìm được phương pháp kết hợp sự nấu sắt và rèn sắt từ rất lâu vào năm 514 TDL sớm hơn Hán tộc phương Bắc rất nhiều. Ngay cả khi phương Bắc biết nấu sắt thì sắt phương Nam cũng tốt hơn sắt phương Bắc rất nhiều.

Chính học giả J. Needham đã thừa nhận Hán tộc phải học kỹ thuật nấu sắt của Bách Việt ở phương Nam. Giới khảo cổ cũng tìm thấy một di chỉ lưỡi móc sắt ở Gò Chiền có niên đại C 14 # 2.400 năm. Việt tộc đã tiến lên thời luyện kim đồng pha cách đây hàng mấy ngàn năm, ít ra là vào khoảng thiên niên kỷ thứ 3 TDL. Như vậy, có thể vào đời Hùng Vương thứ 6, Việt tộc đã bước vào thời đại đồ sắt nên huyền tích Phù Đổng Thiên Vương mới kể chuyện vua Hùng sai người đi tìm sắt rồi đúc ngựa sắt, roi sắt, nón sắt cho cậu bé nhà Trời. Tuy bước vào thời đại đồ sắt nhưng mới chỉ ở giai đoạn đầu vì chuyện kể roi sắt bị gãy khiến cậu bé phải nhổ từng bụi tre để đánh giặc. Thực tế lịch sử trên hoàn toàn phù hợp với niên đại thành lập nước Xích Quy rồi Văn Lang trong truyền thuyết.

Gần đây công trình nghiên cứu khoa học có tính thuyết phục xác định cư dân nền văn hóa Hòa Bình tức người Việt cổ đã biết trồng cây, làm đồ gốm và đúc đồ dùng bằng đồng sớm hơn các dân tộc vùng Cận Đông, Ấn Độ, Trung Quốc và sớm hơn phương Tây cả mấy ngàn năm. Chính vì vậy giới khoa học cho rằng vùng Đông Nam Á là nơi phát xuất nền văn minh của nhân loại.

Truyền kỳ lịch sử về Thánh Gióng cũng kể rằng Thánh Gióng xin nhà vua đúc ngựa sắt, roi sắt để ra trận, roi sắt gãy… Điều này chứng tỏ thời kỳ đó tộc Việt đã qua thời đại đồng tiến sang thời đại sắt nhưng sắt còn non nên bị gãy. Nước Việt thời kỳ này với những mỏ đồng ở dãy núi Tần Lĩnh và Hoài Chấn Phòng, các trung tâm sản xuất đồ đồng Đông Hạ Phùng và Nam Quan ở Nam Sơn Tây. Các di chỉ của nền văn hóa Việt như lễ khí đồng, đồ gốm và tục chôn cất mang bản sắc phương Nam.

Truyền kỳ lịch sử về Cậu Bé Làng Gióng tức Phù Đổng Thiên Vương đánh tan giặc Ân được sách sử cổ và công trình văn hóa khảo cổ xác nhận là sự thật lịch sử với di chỉ Bàn Long Thành ở Vũ Hán Hồ Bắc, nơi hợp lưu giữa dòng sông Hán và sông Dương Tử có những mỏ đồng, chì, thiếc lớn. Bàn Long Thành là thành Rồng Cuộn, vật tổ biểu trưng của tộc Việt với những trung tâm làm đồ gốm, nấu đồng của người Việt cổ. Theo học giả Hoa Kỳ Bagley thành Bàn Long diện tích 100 ha (1 km2), ở giữa có một tòa thành dài 290 mét, rộng 260 m với những ngôi mộ trong đó có 2 lò gốm kiểu Lò Rồng, những đồ gốm, đồ đồng với những đặc điểm kỹ thuật đúc, hình dáng, hoa văn của đồ đồng Bách Việt ở hạ lưu sông Dương Tử.

4. TÊN VIỆT XUẤT HIỆN LẦN ĐẦU TRONG LỊCH SỬ.

Đại Việt Sử lược chép về nguồn gốc và tên của dân tộc ta như sau: “Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, cho Giao Chỉ là ở phía Tây Nam ở xa ngồi đất Bách Việt. Vua Nghiêu sai Hi Thị đến Nam Giao để định đất Giao Chỉ ở phương Nam. Vua Vũ chia chín châu thì Bách Việt thuộc về châu Dương, Giao Chỉ thuộc về đấy. Thời Thành Vương mới gọi là Việt Thường Thị, tên Việt bắt đầu từ đấy”. Sách “Thượng Thư Đại Truyện” và “Hậu Hán Thư” đều chép là thời Chu Thành Vương có họ Việt Thường dâng chim Trĩ trắng.

Theo Trần Quốc Vượng và Hà văn Tấn thì chữ Việt thời cổ tượng hình cái búa và nước Việt ở Triết Giang vì sản xuất ra búa nên lấy làm tên gọi. Thực ra tên gọi dân tộc Việt đã có ngay từ thời Thương Ân sau chiến thắng của “cậu bé nhà Trời” và quân dân Văn Lang trong huyền tích Phù Đổng Thiên Vương được chính cổ sử của Trung Quốc xác nhận. Giặc Ân đã kinh hoàng khiếp vía trước tinh thần chiến đấu của người Việt cùng với sự xuất hiện của một loại vũ khí lợi hại của người Việt, đó chính là lưỡi búa “Phủ Việt” khiến mấy trăm năm sau chúng cũng không dám xâm phạm bờ cõi Văn Lang. Giặc Ân đã dùng tên gọi loại vũ khí độc đáo này để gọi tên dân tộc ta là bọn “Rìu (Việt)”.

Theo Vệ Tụ Hiền trong sách “Ngô Việt Thích Danh Thuyết” thì chữ Việt chỉ tên dân tộc chính là chữ Việt chỉ tên cái búa rìu (Phủ Việt). Chữ Việt nguyên thuỷ này gồm một nét ngang dài và một cái móc ở dưới. Theo nhà nghiên cứu Bình Nguyên Lộc thì sở dĩ Hán tộc dùng chữ tượng hình này để chỉ Phủ Việt là cái búa, loại vũ khí lợi hại của Việt tộc đã làm giặc Ân khiếp vía kinh hoàng. Đó là chiếc rìu chiến lưỡi bằng đồng pha cán ngắn thoạt đầu dùng để phóng đi cắt đầu đối phương, sau này mới chế biến lại cán dài dùng để chém. Phủ Việt là loại vũ khí độc đáo lợi hại nên được xem như bản sắc riêng của Việt tộc, chính vì thế tên dân tộc ta gắn liền với loại vũ khí độc nhất vô nhị này.

Các nhà khảo cổ ở viện Viễn Đông Bác cổ ở Hà Nội thời Pháp thuộc đã đào được ở Quốc Oai giữa Hà Đông và Sơn Tây một lưỡi búa rìu bằng đồng pha mà người Việt gọi là búa mặt nguyệt vì nó trông giống mặt trăng hình lưỡi liềm. Các nhà bác học này đã phục chế lại bằng cách thêm một nhánh cây làm cán thì thấy chữ Việt nguyên thuỷ này có tự dạng giống hệt lưỡi rìu Phủ Việt. Trong Hán ngữ thì chữ Việt là cái rìu còn chữ phủ là cái búa. Ngày nay chữ Việt chỉ cái búa rìu viết có hơi khác một chút, một bên là chữ kim một bên là chữ thích (rìu) để phân biệt với tên dân tộc Việt.

Đến thời Xuân Thu, Khổng Tử khi san định sách Xuân Thu có chép truyện Chu Thành Vương năm 1.115 TDL đã phong cho Hùng Dịch làm vua đất Kinh Man còn gọi là Kinh Việt thuộc châu Kinh. Chữ Việt này vẫn giữ nét “Thích” tượng trưng cho cái rìu và thêm một nét đặc trưng của cư dân trồng lúa nước nên viết thêm với bộ “mễ”. Chữ Việt này gọi là chữ Việt bộ mễ gồm ở trên là chữ mễ nằm trong khung vuông, đuôi dưới là chữ Việt nguyên thuỷ mà Hán tự gọi là bộ nguyệt vì cái đuôi giống hình mặt trăng lưỡi liềm. Về sau chữ Việt bộ mễ dùng để chỉ riêng chi Âu Việt.

Cổ sử Trung Quốc còn viết chữ Việt thứ ba để phân biệt với chữ Việt bộ “mễ” chỉ chi Âu Việt. Chữ Việt này được dùng để chỉ “Bách Bộc chi tộc” định cư ở vùng sông Bộc đã vượt sông Hoàng Hà xuống phương Nam chung sống với Lạc Việt đã định cư tại đây cả ngàn năm trước để thành lập quốc gia Bộc Việt. Chữ Việt này có nghĩa là vượt, vượt qua sông Hoàng Hà để chỉ nước Sở là cư dân trồng lúa nước. Cổ sử Trung Quốc viết chữ Việt này gồm chữ “tẩu” là chạy và chữ “tuất” để miệt thị Việt tộc đã bỏ chạy khi triều Thương đã tiêu diệt nhà Hạ.

Thực tế lịch sử khi giặc Thương diệt nhà Hạ thì phần lớn cư dân Hạ mà cổ sử Trung Quốc gọi miệt thị là rợ Đông Di đã thiên cư lên phương Bắc thành lập các nước Cao Câu Ly, sang Nhật Bản hoặc xuống phương Nam. Thời kỳ này được xem như chấm dứt dòng Thần Nông phương Bắc theo truyền thuyết kể lại chính là thời kỳ khởi đầu cho sự ly tán của Việt tộc để thành lập các quốc gia Bách Việt ở Hoa Nam sau này.
Chữ Việt thứ tư do Lưu An viết trong tác phẩm “Hoài Nam Tử” vào đời Hán. Lưu An là người nước Sở còn gọi là Kinh Việt, đã từng làm vua miền sông Hoài nên tâm tư lúc nào cũng hướng vọng về quê hương đất Tổ xa xưa. Tự thân chữ Hoài Nam Tử đã diễn tả tâm trạng thương nhớ miền Nam của một con dân nước Sở xưa. Trong tác phẩm Hoài Nam Tử”, Lưu An kể chuyện Tần Thuỷ Hoàng sai Đồ Thư đem 50 vạn quân đánh chiếm phía Nam rặng Ngũ Lĩnh gặp phải sự kháng cự mãnh liệt của Việt tộc nên phải rút quân về. Lưu An viết chữ Việt thứ tư này để diễn tả một thực tế là Việt tộc gồm một trăm chi tộc nhưng vẫn giữ nét chung nhất, bản sắc riêng biệt của Việt tộc là cái búa rìu (Phủ Việt) với chữ “ Thích” nghĩa là cái rìu. Chữ Việt thứ tư này hơi giống chữ Việt thứ ba nghĩa là còn giữ chữ “tẩu” nhưng bỏ chữ “tuất” để thay vào chữ “Thích”. Thích là cái lưỡi rìu nhưng viết giản dị hơn, bên phải là chữ “Qua” nghĩa là ngọn dáo, cái phết và cái chấm ở bên trái chữ tuất được thay bằng một nét đá.

Chữ Việt thứ tư này phù hợp với lịch sử tiến hóa của Việt tộc, khởi nguyên từ bộ lạc ban sơ du cư du canh với chiếc rìu độc đáo để rồi sau đó đã định cư ở vùng đất phì nhiêu chuyên trồng lúa nước hình thành nền văn minh nông nghiệp. Như vậy tên dân tộc Việt xuất hiện lần đầu tiên gắn liền với huyền tích Phù Đổng Thiên Vương đánh thắng giặc Ân vào đời Hùng Vương thứ sáu. Thực tế này được chính cổ sử Trung Quốc xác nhận danh xưng Bách Việt xuất hiện vào thời Xuân Thu Chiến Quốc. Sách “Bách Việt Tiên Hiền Chí Đề Yếu” đời Minh Gia Tĩnh giải thích chữ Bách Việt bằng chữ Việt chỉ những dòng họ lớn như họ Từ Phương ở châu Từ nổi tiếng về gốm sứ, họ Phong của Phục Hi tức họ Thái Hạo thờ Rồng nên Phục Hi còn có tên là Thanh Long tức Rồng xanh. Ngoài ra còn có họ Khương tức họ Thiếu Hạo của Thần Nông thờ vật tổ chim, họ Doanh của DươngViệt, họ Yểu của U Việt ở vùng Triết Giang.

Sách “Từ Điển” của Từ Hải chép: “Thời Chiến Quốc (475-221 TDL) đất và người Bách Việt nằm ngoài phạm vi thống trị của Hán tộc. Bách Việt là danh xưng chỉ một tập hợp gồm nhiều chi tộc Việt khác nhau mà sử chép không đầy đủ”. Từ Điển Hoa-Việt của Lý văn Hùng người Trung Quốc giải thích Bách Việt (Bai Yùe) là tên chung của một đại dân tộc vào thời cổ sinh sống ở miền duyên hải Nam Trung Quốc như Ô Việt còn gọi là U Việt ở Triết Giang, Dương Việt ở Giang Tây, Mân Việt ở Phúc Kiến, Âu Việt ở Vân Nam Quảng Tây, Nam Việt ở Quảng Đông và Lạc Việt ở xen kẽ với các chi tộc khắp Hoa Nam nhưng tập trung nhất là ở Bắc và Trung phần Việt Nam.

Từ điển giải thích chữ Việt (Yùe) là vươn lên ngày càng hơn. Việt tẩu chỉ một dân tộc sống về nghề nông, có tinh thần khai phá, có ý chí phấn đấu cao. Từ điển cũng định nghĩa chữ Hán là to lớn, chữ này ghép bởi cách thể nhân theo bộ thuỷ chỉ những người từ Tây Bắc xuống định cư xới đất trồng tỉa ở ven sông Hoàng, sông Hán rồi đánh đuổi Bách Việt xâm lấn dần xuống tới Hoa Nam. Chữ Hán cổ viết tượng trưng vách núi chỉ nơi xuất phát của tộc Hán từ núi rừng Tây Bắc.

Các chi tộc Việt là cư dân nông nghiệp ở rải rác khắp Trung nguyên không tập hợp được sức mạnh chống lại Hán tộc du mục thiện chiến xâm lược nên bị đẩy lùi dần xuống phương Nam. Cuối cùng, tất cả các chi tộc Việt trụ lại ở phần đất Việt Nam hiện nay cùng chung lưng đấu cật, đoàn kết keo sơn gắn bó, tôi luyện ý chí sống còn tạo thành một sức mạnh tổng lực của cả tộc Việt nên đã đẩy lùi biết bao lần quân Hán xâm lược để tồn tại mãi tới ngày nay.

5. HUYỀN TÍCH PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG THỂ HIỆN
Ý CHÍ VÀ SỨC MẠNH TOÀN DÂN BẢO VỆ ĐẤT NƯỚC.

Câu truyện “ Cậu bé Nhà Trời” sinh ra đã 3 năm nhưng chỉ nằm ngửa không nói không cười rồi đột nhiên cất tiếng nói khi sứ giả nhà vua truyền hịch báo “Tổ quốc lâm nguy”, kêu gọi toàn dân nổi lên nhất tề lên đường giết giặc cứu nước cứu dân. Việc vua Hùng kêu gọi hiền tài ra giúp nước chứng tỏ chính sách cầu hiền, trọng dụng người tài ra giúp dân giúp nước. Hình tượng cậu bé làng Phù Đổng không nói suốt 3 năm biểu tượng cho lòng yêu nước thương nòi luôn luôn tiềm ẩn trong lòng mọi con dân nước Việt. Đột nhiên cậu bé cất tiếng nói khi sứ giả nhà vua kêu gọi hiền tài ra giúp nước chứng tỏ rằng khi tổ quốc lâm nguy thì tất cả mọi người trẻ già trai gái đều một lòng hi sinh cứu nước.

Thật vậy khi nhà vua cho người đem ngựa sắt roi sắt nón sắt đến thì mọi người trong làng, kẻ mang nong cơm người mang vại mắm, lu cà đến để cậu bé ăn. Mỗi lần ăn xong, cậu bé lại vươn vai thân thể càng cao lớn hơn hàm ẩn ý nghĩa thâm sâu là một khi toàn dân tất cả một lòng, huy động hết nhân lực vật lực, tài lực thì sức mạnh của nhân dân ngày một phát huy đến cao độ. Sức mạnh đó tạo thành phong trào rồi thành cao trào toàn dân yêu nước kháng chiến chống giặc ngoại xâm trào dâng như thác đổ với khí thế đạp đầu thù, xem cái chết “nhẹ như lông hồng”, nguyện “da ngựa bọc thây” để cứu dân cứu nước. Lịch sử Việt đã chứng minh sức mạnh vô địch của lòng yêu nước thương nòi đã đánh bại bất cứ đạo quân xâm lược nào dù chúng nấp dưới chiêu bài hoa mỹ mị dân nào!

Huyền tích Phù Đổng còn cho chúng ta thấy một chân lý là không thể hoàn toàn trông cậy vào đội quân chính quy, vào vũ khí hiện đại mà phải dựa vào người dân qua hình tượng Phù Đổng và dân làng Phù Đổng. Chiến thắng giặc Ân còn có sự đóng góp của Lý Tiến và Nữ thần Tam Đảo nguyên là một cô gái trên núi Tam Đảo đã chiêu mộ đoàn nữ binh dũng cảm lập nhiều chiến công. Quân giặc đông đến nỗi Thánh Gióng và quân ta chém giết không xuể, roi sắt cũng phải gãy nên phải nhổ cả bụi tre, dân làng chặt tre làm đòn xóc dùng làm vũ khí giết giặc.

Tương truyền sau khi chiến thắng giặc Ân, những gốc tre Thánh Gióng vất bỏ về sau mọc lên những bụi tre do ngựa của Thánh Gióng phun lửa ra cháy xém thành thành màu vàng nên dân làng gọi là tre Đằng Ngà. Nhân dân xã An Vũ huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình đã dựng ngôi đền thờ Thánh Gióng ngay trong khu đất có nhiều bụi tre Đằng Ngà mọc. Văn bia Đền Thượng Thánh Sóc Sơn ghi lại vua Hùng đã cho xây đền thờ Phù Đổng Thiên Vương tại nơi đây, pho tượng Phù Đổng Thiên Vương đúc bằng đồng trên trán có khắc 3 chữ “Thánh, Thần, Vương”. Đó là tước hiệu mà nhân dân tôn sùng ngài vừa là Thánh, vừa là Thần làng và vừa là Vua của Việt tộc. Bước lên đền Thượng có pho tượng Thánh làm bằng gỗ trầm hương mà theo dân gian thì đó chính là cái cây mà Thánh Gióng đã treo áo trước khi bay về Trời.

Comments

Leave a Comment

Powered by themekiller.com anime4online.com animextoon.com apk4phone.com tengag.com moviekillers.com