Hôm Nay HỒNG KÔNG, Ngày Mai VIỆT NAM…

4 tháng ago
46 Views

Posted by Phamtran Anh on Sunday, July 7, 2019

CHỮ VIỆT CÓ TỪ LÚC NÀO?

Chúng ta với tinh thần khoa học nên không thể tin ngay vào những truyền thuyết mà đa số có vẻ hoang đường huyền hoặc không thể tin được. Thế nhưng, lịch sử cùng với những truyền thuyết, những ghi chép từ ngàn xưa là lịch sử chết cứng trên nguồn sách sử. Tuy nhiên chúng ta phải nhớ rằng những công trình nghiên cứu khoa học thuyết phục cùng những kết quả của các công trình văn hóa khảo cổ đã phục hồi sự thật của lịch sử từ hàng ngàn năm trước với việc đo niên đại xác định tuổi của các di chỉ khảo cổ bằng phương pháp phóng xạ Carbon C14. Lịch sử đã trở nên sống thật với kết quả khoa học không thể phủ nhận được, để chúng ta có một nhận định khách quan trung thật hơn về một sự kiện lịch sử.

1. Kết quả công trình khảo cổ nghiên cứu về những hình khắc trên Thạp Đại Văn Khẩu ở Sơn Đông đã được học giả Meacham nhận định: “Chữ Việt có gốc từ một ký hiệu hình một chiếc rìu Việt thẳng có lỗ tròn, cán dài khắc trên một chiếc thạp gốm Đại Văn Khẩu ở di chỉ Lăng Dương Hà, huyện Cử tinh Sơn Đông niên đại khoảng 2000 TDL, không rõ nghĩa nhưng có thể là một tên người hay một biểu tượng…”. Nhà Trung Hoa học Allan cho rằng những ký hiệu này được phổ biến và nhận biết trên một vùng rộng lớn nên đó là một dạng chữ nguyên thủy có niên đại 3.300-2.600 TDL. Như vậy đây là ký hiệu của chữ VIỆT nguyên thủy cách đây khoảng hơn 5 ngàn năm.

2. Kết quả của công trình khảo cổ nghiên cứu về những hình trên thạp Diêm Thôn vẽ một hình rìu Việt lưỡi cong bên cạnh là hình một con cò đang ngậm một con cá trên một chiếc thạp có niên đại khoảng 3500-3000 TDL ở Diêm Thôn, huyện Lâm Nhữ tỉnh Hà Nam. Giới nghiên cứu ghi nhận là Di chỉ Diêm Thôn, sau đó là di chỉ Đại văn Khẩu của cùng một tộc người mà các hình khắc tương ứng với các chữ “nguyệt”, “hỏa”, “sơn” trong Văn giáp cốt Thương thường gắn với các địa danh, một loại gồm các hình rìu là các biểu tượng cho quyền lực. Đặc biệt, các hình vẽ trên thạp Diêm Thôn và hình khắc trên đồ gốm Đại Văn Khẩu rất giống một số chữ cổ trên Kim văn Thương Chu có niên đại khoảng 1.300 TDL. Các chữ này thường viết cùng với chữ “Qua” là loại vũ khí gần gũi với rìu và cũng chỉ địa danh hay tộc danh… Đây chính là vũ khí độc đáo của tộc Việt mà sau này trở thành tên gọi của Việt tộc. Kết quả của di chỉ khảo cổ lịch sử này một lẩn nữa khẳng định cái gọi là Giáp Cốt văn của triểu Thương chính là chữ Việt cổ và Hán tự chữ Tầu Hán sau này đã lấy từ chữ Việt cổ…

Sách Sơn Hải Kinh viết: “ Quán (cò) là chữ chỉ vùng đất của những người Quán đầu (Đầu cò) hay Hoan Đầu, xưa kia đã phải di dời từ từ vùng Lâm Nhữ Hà Nam (vùng có di chỉ Diêm Thôn) về phía Nam…”. Nơi đó chính là vùng đất của người Lương Chử vì theo Sơn Hải Kinh thì người đầu có là những người có mỏ và cánh chim thường đi dọc ven biển dùng mỏ để bắt cá. Người đầu cò là dòng dõi của vua Cổn, bố vua Đại Vũ nhà Hạ. Nước của người Đầu Cò ở vùng ven biển phía Đông Nam có tên là nước Hoan Chu hay Đan Chu. Theo tài liệu nghiên cứu Dân tộc học của Laufer và Jackson thì cư dân Bách Việt vùng Thái Hồ, Giang Tô, Triết Giang và khắp vùng ven biển thường huấn luyện “Cò mồi” để bắt chim hay “Cốc” để bắt cá. Theo nhà nghiên cứu Chamberlain thì chữ chỉ chim Cốc (glak) cũng đồng âm với tên gọi Lạc của người Lạc Việt ở Triết Giang.

Thưa quý vị và các bạn, bây giờ chúng ta mới hiểu thấm thía tại sao ca dao Việt thường ví hình ảnh tình thương con của người mẹ với con cò con vạc. Người Việt hay ví von, ca hát là nhắc đến con cò, con vạc sâu đậm đến độ trong ca dao Việt Nam có rất nhiều bài nói về con cò, trong dân ca có riêng một điệu hát mang tên là điệu hát Cò lả. Hình tượng con cò được phản ánh rất nhiều qua ca dao và dân ca và là hình ảnh về thân phận của người phụ nữ nông thôn Việt Nam với tấm thân gầy guộc, khẳng khiu, da bọc xương, lặn lội lom khom bì bõm nên dân gian thường ví von hình ảnh người mẹ thân thương là tấm thân cò.

Comments

Leave a Comment

Powered by themekiller.com anime4online.com animextoon.com apk4phone.com tengag.com moviekillers.com