CỘI NGUỒN VĂN HÓA VÀ NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA KHOA HỌC

1 tuần ago
12 Views

Kính Thưa Quý vị và các bạn trẻ yêu nước,

Cho đến ngày nay, chúng ta chưa có một nhận định rõ ràng về cội nguồn văn hóa và nguồn gốc dân tộc Việt vì hầu hết các sách sử cũ viết từ thế kỷ 19, 20 nên chưa cập nhật được những kết quả mới nhất của khoa học. Ngay cả bộ lịch sử Việt Nam của Viện Sử học nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam viết theo nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm mục đích tuyên truyền nên hết sức thiếu sót sai lầm. Điều này đã được Trần văn Giàu và nhà sử học Phan Huy Lê, Viện Trưởng Viện Sử học thú nhận là “Viết Sử theo nghị quyết của đảng thì lịch sử không còn là lịch sử nữa”. Sử gia Đào Duy Anh đã viết sử theo nghị quyết của Đảng Công sản nên sử gia đã phải cay đắng thốt lên rằng “Người ta biết tôi nhờ lịch sử và hậu thế lên án tôi cũng vì lịch sử …”.

Chính vì vậy, hơn lúc nào hết một bộ Lịch sử Việt Nam được viết trên quan điểm dân tộc với tri thức thời đại là một nhu cầu cấp thiết, hết sức cần thiết cho thế hệ trẻ Việt Nam có một sử quan chân chính, một nhận thức đúng đắn về lịch sử dân tộc. Từ đó, thế hệ trẻ Việt nam sẽ hiểu rõ để tự hào về nguồn gốc dân tộc và cội nguồn văn hóa Việt, hãnh diện với các chiến tích oanh liệt hào hùng của tiền nhân bao đời cùng với những danh tướng Việt Nam, các anh hùng vô danh đã tạo nên những kỳ tích có một không hai trong lịch sử Việt Nam và của cả nhân loại nữa.

Chúng ta phải cùng nhau “Khơi Dòng Sử Việt” để tìm về “Hồn tính Việt ngàn đời” góp phần nâng cao dân trí do chính sách ngu dân, tuyên truyền lịch sử một chiều của Đảng Cộng sản Việt Nam với những sự kiện không có thật, bóp méo xuyên tạc và sửa đổi lịch sử để bảo vệ chế độ độc tài đảng trị. Vì vậy, hầu hết giới trẻ chán nản, không thích học lịch sử vì lịch sử dân tộc gắn liền với sử quan duy vật Mác Xít. Thế hệ trẻ không biết gì về những anh hùng dân tộc đã đứng lên chống kẻ thù “Đại Hán xâm lược xưa và Đế quốc mới Trung Cộng” ngày nay mà chỉ học về những “Dũng sĩ Diệt Mỹ” không có thật như một Lê văn Tám, một Võ Thị Sáu… Chúng ta thật sự đau lòng khi sách sử viết rằng Hai Bà Trưng đánh đuổi quân thù xâm lược mà không dám viết rõ ra là quân thù Tàu Hán, Trung Quốc xâm lược …

Gần đây, tập đoàn Việt gian Cộng sản còn quyết định hủy bỏ môn lịch sử Việt Nam, đồng thời bắt các em học sinh từ cấp 1 đến cấp 3 phải học tiếng Trung Quốc. Đây chính là chủ trương của tập đoàn Việt gian Cộng sản muốn người dân chán ghét lịch sử, không biết rõ lịch sử hào hùng chống Trung Quốc xâm lược nên theo thời gian, lịch sử dân tộc sẽ mai một, thế hệ trẻ Việt Nam không có niềm tự hào dân tộc nên không còn lòng yêu nước để đế quốc mới Trung Cộng dễ dàng “Hán hóa” dân tộc Việt…

Thâm độc hơn nữa là một lối chữ mới, viết theo kiểu mới gọi là cải tiến tiếng Việt để xóa bỏ lối chữ Quốc ngữ a,b,c của chúng ta. Vấn đề đặt ra là nếu không có gì thay đổi thì 5, 10 năm nữa con em chúng ta sẽ phát âm lơ lớ giọng hò hét của Ô Mã Nhi trên sông Bạch Đằng và không biết đọc chữ Quốc ngữ nữa thì ôi thôi, kẻ thù truyền kiếp của chúng ta với sự tiếp tay của những tên Thái Thú xác Việt hồn Tàu phù đã triệt tiêu toàn bộ nền văn hóa Việt ngàn đời của chúng ta!

Chúng tôi có bổn phận phải viết quyển sách này để khơi dòng lịch sử, nói với các bạn trẻ về những sự thật lịch sử mà trước đây chúng ta không hề biết. Như một thiên duyên, đến cuối thế kỷ thứ 20, với kết quả của các công trình khoa học đã phục hồi sự thật lịch sử về đại tộc Bách Việt thuộc đại chủng Hoabinhoid đã mở ra một vận hội mới cho dân tộc Việt Nam. Chúng ta sẽ cùng nhau tìm về cội nguồn văn hóa, nguồn gốc dân tộc dưới ánh sáng của khoa học…

Chúng tôi gọi là thiên duyên của đại tộc Bách Việt vì tất cả đã giải đáp sáng tỏ những ưu tư của biết bao thế hệ, biết bao con dân đất Việt thao thức tìm ra câu trả lời cho vấn nan lịch sử từ xa xưa cho đến ngày nay. Đây cũng là điều mà cách đây hơn nửa thế kỷ đã hằn sâu trong tâm trí, đeo đẳng gậm nhấm tâm hồn từ khi mới bước chân lên ngưỡng cửa Đại học, ám ảnh suốt thời gian tù đày hơn hai mươi năm cho tới khi tìm ra giải đáp thỏa đáng mới cảm thấy mãn nguyện vì đã chu toàn phần nào bổn phận của một con dân đất Việt tìm về nguồn cội của mình.

Thưa quý vị,

Khi nghiên cứu lịch sử Việt, vấn đề đầu tiên phải đặt ra là nghiên cứu các nguồn sử liệu. Từ trước đến nay, giới nghiên cứu thường tìm đọc những sách sử trong nguồn thư tịch cổ và phải là nguồn sách sử chính thống của Hán tộc mà họ gọi là “Chính sử” của Trung Quốc. Trên thực tế những bộ sử gọi là chính sử do Sử quan các triều đại viết thì phải biện minh cho chính sách xâm lược thống trị của “Đại Hán xâm lược bành trướng” thì họ viết là khai hóa man di mọi rợ… thì làm sao mà trung thực được! Vì thế, ngoài phần chính sử, chúng tôi phải tìm đọc những sách gọi là “Ngoại Thư” là những sách sử không do triều đình biên soạn mà là sách sử do những người Trung Quốc gốc Việt cổ viết để lại cho hậu thế Việt Nam…

Tiền nhân Việt cổ đã để lại những nguồn sách sử mà chính sử Trung Quốc gọi là Ngoại Thư như Giao Châu Ký, Quảng Châu Ký, Liêu Nghi truyện, Quân Quốc Lợi Bệnh Thư và nhất là Bách Việt Tiên Hiền Chí của Trinh Bá Âu Đại Nhậm đời Minh… Ngoài ra phải tìm đọc những truyền kỳ lịch sử truyền khẩu từ thế hệ này sang thế hệ khác như Lĩnh Nam Trích Quái, Việt Điện U Linh, Thiên Nam Ngữ Lục… là những bộ Thông sử Dân gian viết mang tính trung thực đáng tin cậy hơn những gì mà chính sử viết.

Chúng ta cũng phải tìm về nguồn cội dân tộc qua truyền thuyết khởi nguyên của dân tộc vì đó là bức thông điệp hàng ngàn năm lịch sử của tiền nhân gửi gấm cho chúng ta. Mỗi dân tộc đều có những truyền kỳ lịch sử được thần thoại hóa thể hiện lòng tự hào dân tộc mang tính sử thi của mình. Thật vậy, huyền thoại Rồng Tiên về ngọn nguồn huyết thống Việt tuy đượm vẻ huyền hoặc nhưng lại tràn đầy tính hiện thực, thấm đậm nét nhân văn của truyền thống nhân đạo Việt Nam. Huyền sử con Rồng cháu Tiên, uyên nguyên của nền minh triết Việt là niềm tự hào của nòi giống Rồng Tiên.

Chúng ta phải lắng nghe tiếng nói từ tâm thức sâu thẳm không cùng của bức thông điệp hàng nghìn năm lịch sử về Huyền thoại Rồng Tiên khởi nguyên của dân tộc Việt. Để rồi, chợt một lúc nào đó chúng ta cảm nhận được cái “Tiềm thức Cộng thông” từ muôn đời vang vọng bức thông điệp vô ngôn của tiền nhân từ thời lập quốc, thế là bức thông điệp lịch sử từ ngàn năm được giải mã để chúng ta quên đi lối suy nghĩ duy lý thực dụng của đời thường. Cuối cùng tất cả phải được kiểm chứng qua những kết quả của khoa học từ dân tộc học, ngôn ngữ học, khảo cổ, huyết học, khảo Tiền sử, Văn hóa khảo cổ, Di truyền học và đại dương học để chúng ta có một nhận định đúng đắn thống quán xuyên suốt tiến trình lịch sử của dân tộc Việt.

Nữ Nghệ Sĩ Kim Tuyến lên tặng hoa cho Người Tù Bất Khuất, Sử gia Phạm Trần Anh.

Thưa quý vị và các bạn,

Chúng ta với thái độ khiêm cung cầu tiến phải tôn trọng những sử gia tiền bối, những nhà nhân chủng như những cây đại thụ, thế nhưng không phải cứ nhắm mắt bước theo lối mòn xưa cũ mà không dám mạnh dạn tìm ra một cái nhìn khác, đưa ra một quan niệm mới với những nhận định khoa học hơn, hợp lý và thuyết phục hơn. Nhân loại bước sang thiên niên kỷ thứ ba với những tiến bộ vượt bậc về khoa học cùng với các công trình nghiên cứu được kiểm chứng bởi khoa khảo cổ đã phục hồi sự thật lịch sử bị sửa đổi xuyên tạc bóp méo của Đế quốc Tàu Hán xưa và đế quốc mới Trung Cộng ngày nay đã mấy ngàn năm qua.

Sau bao năm trời tìm tòi nghiên cứu, như một nhân duyên tôi đã tìm gặp những nguồn sử liệu khai mở trong tôi những vấn nan chất chứa từ hàng ngàn năm nay. Chúng tôi nghiên cứu phân tích đối chiếu các nguồn sử liệu để có một nhận định khách quan trung thực rồi sắp xếp các sự kiện, hệ thống theo một trình tự của lịch sử tiến hóa và tiến trình lịch sử Việt Nam từ thời lập quốc cho đến ngày nay.

Nền văn minh tối cổ của nhân loại cho đến thời điểm hiện tại là nền văn hóa Hòa Bình với nền văn minh lúa nước của nhân loại trải rộng lưu vực 3 con sông lớn là Dương Tử, Cửu Long và sông Hồng nhưng tập trung nhất là lưu vực sông Hồng – sông Việt (Việt Giang đã bị Tầu Hán đổi tên là Tây Giang).

2. Người Hòa Bình Hoabinhian là người Tiền sử từ châu Phi tiến qua định cư ở vùng Hòa Bình lưu vực sông Hồng, sông Việt và sông Mã ở Bắc Việt Nam cách ngày nay khoảng 70 ngàn năm. Kết quả công trình khảo cổ đã tìm thấy di chỉ bộ xương người cổ ở Quảng Tây trước là Việt Tây có niên đại 68 ngàn năm.

3. Người Hòa Bình chính là người Tiền Việt => Người Việt Cổ Ancient Vietnamese vì Cư dân Hòa Bình mà chúng tôi gọi là những người Tiền Việt (Proto-Viets) vì theo các nhà cổ nhân học thì đến giữa thời đại đá mới cách đây chừng 7-8 ngàn năm, chủ nhân của nền văn hoá Hoà Bình Bắc Sơn có những nét ở sọ và ở mặt rất giống người Việt cổ ở Thiệu Dương (Thanh Hoá), La Đôi không có gì khác biệt với người Mường gốc ở Hoà Bình.

4. Lịch Sử Tiến Hóa của Đại tộc Việt được chứng minh bởi kết quả của các công trình Văn hóa khảo cổ cho thấy các nền văn hóa Hòa Bình, nền văn hóa Long Sơn Sơn Đông 35-25.000 năm TDL, Đại Văn Khẩu, Bán Pha 12000 năm TDL, Hà Mẫu Độ 7000 năm TDL, Giả Hồ 6.600-6.200 TDL, Tam Tinh Đôi Ba Thục 5.535 TDL, Lão Ngưu Pha 3.000 TDL, Diêm La Thôn, Lương Chử có niên đại 3.400-2.250 TDL, Ngưỡng Thiều 6.065 TDL trước khi Hán tộc du mục từ Tây Bắc tràn vào tiêu diệt nhà Hạ của tộc Việt thành lập triều Thương đầu tiên của lịch sử Trung Quốc (Hán tộc) năm 1766 TDL nên chúng tôi xếp vào Lịch sử Tiến hóa của tộc Việt.

5. Lịch Sử Trung Hoa Thời Cổ Đại Là Lịch sử của Đại Tộc Bách Việt: Dân tộc Việt là một dân tộc thuộc đại chủng Hoabinhoids và có lịch sử lâu đời nhất. Cuộc hội thảo về nguồn gốc của nền văn minh Trung Hoa tại Đại học Bekerley năm 1978 bao gồm các nhà Trung Hoa học bao gồm cả Trung Quốc Đài Loan đã đúc kết nhân định rằng Tộc người Di Việt định cư ở Trung Quốc đầu tiên. Các công trình nghiên cứu lịch sử, ngôn ngữ và dân tộc học, đặc biệt là kết quả của khoa Khảo Tiền sử đo chỉ số sọ, kết quả các công trình khảo cổ và nhất là kết quả Mã di truyền Genom DNA đã phục hồi sự thật lịch sử khẳng định người Việt Cổ là cư dân đầu tiên định cư trên khắp lãnh thổ Trung Quốc bây giờ. Lịch sử Trung Hoa thời Cổ đại là lịch sử của Đại tộc Việt từ Đế Hoàng tới Đế Xuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đế Vũ nhà Hạ là của tộc Việt. Lịch sử Trung Quốc chỉ mới thành hình từ năm 1766 TDL khi tộc Thương xâm chiến nhà Hạ của tộc Việt thành lập triều đại đầu tiên của lịch sử Trung Quốc.

6. Tiến Trình Lập Quốc của Dân tộc Việt không phải là từ vùng Động Đình Hồ phương Bắc rồi thiên cư dần xuống phương Nam như sách sử chép từ trước đến giờ mà ngược lại là từ phương Nam lên phương Bắc rồi lại xuống phương Nam. Sự thật là cư dân Hòa Bình tức người Tiền Việt phải thiên cư lên miền cao ở Tây Bắc tới cao nguyên Malaya rồi khi nước biển rút dần mới tiến xuống định cư ở vùng lưu vực các con sông Dương Tử, Hoàng Hà rồi xuống Bắc Việt Nam. Sách sử cũ chép vua Hùng lập quốc ở Việt Trì Phú Thọ Bắc Việt Nam là không đúng vì thời kỳ này nước biển còn tràn ngập châu thổ sông Hồng. Thật ra vua Hùng lập nước Văn Lang ở châu Phong lòng chảo Dạ Lang, Ba Thục Tứ Xuyên sau này. Đến chi Hùng Vương thứ 16 Hùng Tạo Vương mới dời đô xuống Vân Nam Thượng và chi Hùng Vương thứ 18 mới dời đô xuống Việt Trì Phú Thọ Bắc Việt Nam. Dựa trên những công trình nghiên cứu khoa học, chúng ta ghi nhận tiến trình lịch sử Việt gồm 3 thời kỳ lịch sử:

– Thời kỳ Người Tiền Việt (Hoabinhian=>Proto-Viets) với nền Văn Hóa Hòa Bình của cư dân Hòa Bình ở Bắc Việt Nam. Khi biển tiến, Protoviets phải thiên cư lên cao nguyên Malaya.

– Thời kỳ Lập Quốc: Cách đây khoảng 5.500 năm, nước biển rút dần nên Protoviets tiến xuống vùng chân cao nguyên Malaya rồi xuống lưu vực 2 con sông Hoàng Hà và Dương Tử, thành lập quốc gia sơ khai Xích Quy rồi Văn Lang ở châu Phong Ba Thục vùng giáp ranh 4 con sông Min Ya Kong Kạ. (sau là Bồn địa Tứ Xuyên).

– Thời Kỳ Văn Hóa Phùng Nguyên: Khi mực nước biển rút dần, vua Hùng thứ 18 mới dời đô về Đất Tổ Phong Châu ở Việt Trì, Phú Thọ Việt Nam.

7. Tên nước thời Kinh Dương Vương là Xích Quy chứ không phải là Xích Quỷ như chúng ta hiểu sai từ bao đời nay. Vua Hùng mở nước Văn Lang ở Châu Phong Ba Thục, sách cổ Thượng Thư gọi là Xích Quy Phương còn gọi là Giao Chỉ hay Cửa Việt nay là vùng trải dài từ 3 con sông phía Bắc (Hoàng Hà, sông Vị, sông Lạc) xuống 3 con sông phương Nam (Dương Tử, Sông Nguyên, sông Tương).

8. Truyền Thuyết khởi nguyên Dân tộc là một hiện thực lịch sử. Thật vậy, địa danh Thủy Phủ nơi mà bố Lạc Long Quân dẫn 30 con về miền sông nước là Suifu trong tấm bản đồ của Atlas 1949 chính là cảng Thành Đô phủ Trùng Khánh tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc bây giờ.

9. Sử gia chính thống ”Đại Hán” là Tư Mã Thiên đã mạo nhận Thủ lĩnh Đế Hoàng là Thủ lĩnh của Hữu Hùng Thị nước La (Lạc) Việt ở Tân Trịnh Hà Nam là Hoàng Đế, thủy tổ của Trung Quốc (Tầu Hán). Kết quả văn hóa khảo cổ đã phục hồi sự thật lịch sử là ngoài nước La (Lạc Việt) của Đế Hoàng ở Hà Nam Sơn Đông còn có các nước Việt như Thục Việt, nước Việt ở Lão Ngưu Pha, nước Yu Việt, nước Việt ở Ninh Hương Hồ Nam, nước Việt ở Bàn Long Thành, nước Việt Triết Giang U Việt, các nước Ngô Việt, Sở Việt thời Xuân Thu Chiến Quốc… Sử gia Hán Tư Mã Thiên lợi dụng chữ viết Việt cổ cũng như các nước Việt đã bị tiêu diệt nên lấy Đế Hoàng đưa lên làm thủy tổ tộc Hán viết theo cú pháp Hán tự là Hoàng Đế. Sử quan ”Đại Hán” Tư Mã Thiên đã triệt tiêu đại tộc Việt, xóa bỏ cội nguồn để cắt đứt dòng sử mệnh của Bách Việt tạo ra nhiều ngộ nhận lịch sử khiến một số người nghiên cứu lịch sử vì tin theo Sử Ký của Tư Mã Thiên đã viết sử sai lạc hết sức tai hại mãi cho đến bây giờ.

Comments

Leave a Comment

Powered by themekiller.com anime4online.com animextoon.com apk4phone.com tengag.com moviekillers.com