HOÀNG SA TRƯỜNG SA KỂ CẢ LÃNH THỔ TRUNG QUỐC BÂY GIỜ LÀ CƯƠNG GIỚI CỦA ĐẠI TỘC VIỆT TỪ THỜI CỔ ĐẠI (Bài 2)

4 tuần ago
39 Views

Cổ sử Trung Hoa chép rằng Đế Hoàng bình định các nơi, mở mang bờ cõi, đặt ra y phục, xây dựng nhà cửa cung thất, chế đồ dùng bằng đồng để thay đồ bằng đá, chế xe cộ, ghe thuyền… Nguyên phi là Luy Tổ phát minh ra nghề nuôi tằm và chế ra thứ se để kéo kén ra tơ, nhà thiên văn Duy Thành phát minh ra máy Cái Thiên để quan sát thiên văn khí tượng. Đế Hoàng sai Thương Hiệt chế ra lối chữ tượng hình chân chim để thay cho lối chữ thắt nút (kết thằng) thời Đế Viêm. Đế Hoàng truyền ngôi cho con là Thiếu Hạo rồi Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Chí là ngũ Đế, còn Tam Hoàng là Toại Nhân, Phục Hy và Thần Nông.
Sách sử cổ ghi rõ Chuyên Húc thuộc dòng họ Cao Tân Cao Dương của tộc Việt còn lưu lại dấu ấn trong sự tích trầu cau. Đế Cốc thay Đế Chuyên Húc lại là cháu của vua Thiếu Hạo, dòng Thần Nông thờ chim là vật biểu, chính là chi Âu Việt (tộc thờ chim) của tộc Việt. Cổ sử Trung Hoa chép rằng “Đế Chí vi nhược, chư hầu tôn Nghiêu, con Đế Cốc lên thay”. Đế Nghiêu lên ngôi lấy tên nước là Đường, đóng đô ở Bình Dương thuộc Hà Đông tỉnh Sơn Tây. Đế Nghiêu họ Đào Đường là con thứ của Đế Cốc, em Đế Chí nhưng vì Đế Chí nhu nhược nên chư hầu tôn Nghiêu lên làm vua lấy hiệu là Đường Nghiêu. Sự thật lịch sử này sẽ làm đảo lộn tất cả những sử sách kinh điển của Hán tộc viết theo lý của kẻ mạnh để “Lộng giả thành chân” khiến mọi người tin theo bao đời nay.

Đế Nghiêu họ Đào Đường chăm lo việc chính trị, cai trị nhân đức. Đế Nghiêu sai ông Hi và ông Hòa làm lịch để dân biết thời vụ để làm nông. Lịch thời đó gồm có 360 ngày, có tháng nhuần. Trăm họ cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống, an hưởng thái bình. Đế Nghiêu được ông Thuấn giúp việc tuần thú và giao tiếp chư hầu. Con vua Nghiêu là Đan Châu kém cỏi bất tài nên Đế Nghiêu gả 2 con gái cho và truyền ngôi cho Thuấn. Vì thế Đào Đường Thị Đế Nghiêu được hậu thế ca tụng là tài đức song toàn, truyền ngôi cho người hiền mà không truyền ngôi cho con. Họ Đào Đường làm vua từ năm 2.356 đến 2.255 TDL thì truyền ngôi cho Thuấn là người tài đức. Thuấn lên ngôi đóng đô ở Bồ Bản thuộc đạo Hà Đông tỉnh Sơn Tây, đổi tên nước là Ngu (Âu). Đế Thuấn sai ông Vũ đi trị lụt, đặt ra lệ tuần thú, lập nhà học Thượng Tường và Hạ Tường. Theo Mạnh Tử Đế Thuấn là người Đông Di tức chi Lạc bộ Trĩ của tộc Việt. Đế Thuấn được nhiều hiền tài ra giúp như ông Tiết, Cao Dao, ông Ích, ông Tắc…
Đế Thuấn ở ngôi được 18 năm, con là Thương Quân không theo nổi nghiệp cha nên truyền ngôi cho người hiền là ông Vũ. Vua Vũ là con của ông Cổn, cháu huyền tôn của Hoàng Đế. Đời vua Nghiêu có lụt lớn, vua sai ông Cổn đi trị thủy. Cổn cho đắp đê nhưng nước lại càng dâng lên cao. Thuấn lên ngôi cử ông Vũ lên thay cha đi trị thủy, Vũ dùng cách sơ đạo, khai thông sông ngòi cho nước thuận theo dòng chảy ra biển suốt 13 năm trời mới hết. Vua Vũ muốn truyền ngôi cho người hiền là ông Ích nhưng Thái Tử Khải là người hiền nên khi nhà vua băng, các chư hầu tôn Thái Tử lên thay tức là Đế Khải. Ngôi vua từ chế độ “Truyền hiền bất truyền tử” chuyển sang chế độ Quân chủ “Thế Tập” kể từ đó.

Sách sử cổ chép rằng vua Đại Vũ lập ra nhà Hạ là hậu duệ của Xuyên Húc nhưng lấy họ Tỷ vì trước khi lên ngôi, Vũ lập nghiệp ở bờ sông Tỷ tỉnh Sơn Tây. Kinh đô nhà Hạ ở An Ấp tỉnh Sơn Tây chỉ cách ngã ba sông Vị hơn 100 km. Vua Hạ là người đầu tiên lập ra chế độ thế tập cha truyền con nối. Việc cai trị nước được tổ chức quy củ, Vua Hạ Vũ chia lãnh thổ ra làm 9 châu dựa trên địa lý thiên nhiên và dựa trên 9 phương ngữ của cư dân Bách Việt bản địa trong đó, đất Kinh Việt gọi là Châu Kinh. Thiên Vũ Cống của Kinh Thư chép cương giới của châu Kinh hướng Đông tới ngọn sông Hoài. Châu Kinh nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam, Qúy Châu, Quảng Tây là địa bàn cư trú của dân nước Sở thời Chiến Quốc mà sử Trung Quốc gọi là Kinh Man. Châu Dương rộng hơn tới tận biển Đông gồm miền sông Hoài, châu Từ, U Việt mà sử Trung Quốc gọi là Di Việt.
Bây giờ chúng ta lấy chính lịch sử của Trung Quốc để chứng minh cho cái gọi là chủ quyền lịch sử từ thời cổ đại. Các bạn vào Wikipedia Bách Khoa Toàn Thư tiếng Việt tìm lịch sử Trung Quốc thì các bạn sẽ hiểu lịch sử TQ bắt đầu từ lúc nào? Năm 1766 TDL, tộc Thương du mục từ Tây Bắc tràn xuống đánh chiếm lãnh thổ của nhà Hạ thành lập triều đại đầu tiên của lịch sử Trung Quốc. Đây là một chuyển biến lịch sử thay đổi cục diện trung nguyên Trung Quốc. Hoàng tộc và cư dân nhà Hạ, Bách Bộc chi tộc phải vượt sông Hoàng Hà chạy xuống phương Nam thành lập quốc gia Bộc Việt. Theo Từ Hải và các sách sử cổ Trung Quốc thì Thành Thang đánh chiếm tiêu diệt nhà Hạ năm 1766 TDL và chấm dứt năm 1122 TDL. Kinh đô đầu tiên ở đất Bạc, sang đến đời Bàn Canh phải dời đô về đồi Ân (Ân khư) nên đổi tên triều Thanh là Triều Ân. Chính thời kỳ này, giặc Ân vượt sông Hoàng Hà đánh nước Xích Quy của tộc Việt còn ghi dấu trong truyền kỳ lịch sử Phù Đổng Thiên Vương…

Điều mà chúng ta không bao giờ có thể ngờ được là niên đại lịch sử ghi trong sách sử lại phù hợp với truyền kỳ lịch sử được ghi rõ trong “Ngọc Phả Truyền Thư” về sự kiện lịch sử giặc Ân đánh phá nước ta vào thời Hùng Vương, chi Đoài đời vua Hùng Vĩ Vương, húy VĂN LANG, sinh năm 1469 TDL lên ngôi năm 31 tuổi, chi này gồm 5 đời vua, cả thảy là 100 năm. Thời kỳ này, truyền kỳ lịch sử kể rằng giặc Ân sang đánh nước ta bị Phù Đổng Thiên vương đánh cho tan tác. Sử Tàu ghi là đời Cao Tông triều Ân đánh nước Quỷ Phương 3 năm đóng quân ở đất Kinh.
Sách sử cổ chép tên nước thời Kinh Dương Vương là Xích Quỷ, thực tế vùng đất này là Xích Quy Phương nên Kinh Dương Vương đặt tên nước là Xích Quy. Đến đời Hùng Vương lấy tên nước là Văn Lang nên vị vua Hùng chi Hùng Vương thứ 8 là Hùng Vĩ Vương húy Văn Lang (1431-1332 TDL) thì bị giặc Ân đem quân vượt sông Hoàng Hà xuống đánh. Tuy đánh chiếm được phần đất này nhưng vua Ân là Vũ Định vẫn nơm nớp lo sợ nước Việt, thực tế này được ghi chép rõ trong Giáp cốt văn thời Thương. Sử Trung Quốc chép rằng: “Đời Cao Tông triều Ân vượt Hoàng Hà đánh nước Quỷ Phương…”. Việt tộc định cư tại vùng lòng chảo từ Tam Giang Bắc xuống tới Ba Thục là vùng đất đỏ Basalt mới bồi nên sách “Thượng Thư” gọi vùng này là “Xích Quy phương”.

Nhà nghiên cứu Giáp cốt văn đời Thương Meacham thì vua Thương là Vũ Đinh đã nhắc tới chữ Việt chỉ nước Việt 130 lần. Nhà nghiên cứu Henry cho biết thêm nội dung một số đoạn giáp cốt văn như “Có phải Việt sẽ đến không?” “Liệu sẽ lấy được Việt không?”. Bản Giáp cốt văn này đã chứng tỏ triều Thương của Hán tộc đã đánh chiếm nước Việt ở giáp phía Nam nước Thương và nhà nghiên cứu Keightly xác định nước Việt ở Nam Sơn Tây và vua Việt đích thân cầm quân với các biểu trưng riêng của mình đó là hình chiếc rìu Việt trên các đồ đồng tế lễ nên có thể xem đó là hiệu kỳ của tộc Việt thời cổ đại.
Lịch sử Trung Quốc cũng ghi rõ là triều Thương Ân xâm chiếm nước Quỷ Phương chính là Xích Quy Phương (1431-1332 TDL) và triều Chu sai Tần đánh đuổi Lạc bộ Chuy năm 659 TDL khiến vua Hùng phải dời đô xuống Phong Châu Thượng ở Vân Nam. Đế quốc Tần xâm chiếm Ba Thục năm 316 TDL và các nước Ngô Sở Việt năm 223 thời Xuân Thu Chiến Quốc và Tây Âu Việt năm 218. Đến thời Hán Vũ Đế xâm chiếm Dạ Lang năm 136 TDL và xâm chiếm các nước Việt ở Tây Nam năm 135 TDL. Cuối cùng xâm chiếm Nam Việt năm 111 TDL và Điền Việt năm 109 TDL…

Comments

Leave a Comment

Powered by themekiller.com anime4online.com animextoon.com apk4phone.com tengag.com moviekillers.com